Một tấm ḷng trọng đạo thương đời

 

 

                                                                                                                                                                                                                                Thích Đức Trí

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

            Đến Mỹ, lần đầu tiên tôi được đón một cái Tết thắm t́nh đạo vị ở hải ngoại, tại Trung-Tâm Phật-Giáo chùa Việt-Nam – Houston.  Sau đó, tôi đến chùa Việt-Nam tại Los Angeles để viếng thăm Ḥa-Thượng Măn-Giác và quư Thầy.  Tôi đươc duyên hầu chuyện với Ḥa-Thượng, rồi được Ngài kể cho nghe những mẫu chuyện và những h́nh ảnh về Phật-Giáo Việt-Nam trong quá khứ và hiện tại. Tôi cảm nhận rằng, Ḥa Thượng rất ưu tư về vận mệnh Phật-Giáo Việt-Nam ở trong và ngoài nước, đặc biệt là Ngài rất hiểu rơ những khó khăn và thuận lợi của những Tăng sĩ đang tu học và hành đạo trong giai đoạn nầy.  Câu chuyện kéo dài hơn một giờ, đột nhiên Ngài hỏi tôi rằng: “Thầy Như-Minh có khuyên con nên ở lại Mỹ không?” Tôi đáp “dạ có.”  Điều ngạc nhiên lớn với tôi là khi chưa tŕnh bày việc xin Ngài ở lại mà Ngài đă hỏi tôi trước điều đó.  Rời quê-hương xuất ngoại tu học, và đă ở qua một vài ngôi chùa ở ngoại quốc, nay trở về với chùa Việt-Nam hải ngoại, tôi cảm nhận được t́nh cảm thân quen ấm áp t́nh đạo vị của tất cả quư Thầy, đặc biệt là vị Ḥa Thượng khả kính của chúng ta hôm nay.  Từ đó, tôi cảm thấy không c̣n đơn điêu sống nơi đất khách quê người, và tự tin ở tinh thần đồng đạo để tu học ở đây.

 

            Chúng ta t́m thấy những ǵ nơi tấm thân già yếu của một đại lăo Ḥa Thượng tuổi ngoài bảy mươi? Ngài thật xứng là một bậc Long Tượng Phật pháp có tấm ḷng trọng đạo thương đời.  Sinh ra ở quê hương Quảng-Trị, xuất gia tu học vào tuổi lên 10 tại Huế, tiến thân trên sự nỗ lực tu học, đem năng lực của  ḿnh phục vụ đạo pháp, đem cái tinh hoa Phật học ở nước Nhật để về cống hiến cho sự nghiệp giáo dục Phật-Giáo ở Việt-Nam trong thập niên trước 75.  Sau khi rời quê hương đến đất Mỹ, Ḥa Thượng dốc hết ḷng cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh ở hải ngoại, d́u dắt cho bao lớp Tăng Ni tu học

 

            Là một Tăng sĩ dạn dày kinh nghiệm tu học, Ngài đă chứng kiến sự thịnh suy của Phật-Giáo Việt-Nam qua bao thời kỳ.  Do vậy mà tấm ḷng Ḥa Thượng luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và bao dung với mọi người, với giới tăng trẻ đang tu học. Trong tấm ḷng ấy, dù bất cứ ở đâu lúc nào, văn chương và thi phẩm đi đôi với đời sống, đượm nhuần cái tinh túy của Phật-Giáo Việt-Nam.  Bởi lẽ, Phật-Giáo đă gắn liền với sự tồn vong của văn hóa dân tộc và nó đă trở thành mạch sống và hơi thở dân tộc qua bao thời đại thăng trầm. Trong giới Phật tử cũng như mọi người con Việt nói chung, nhớ đến chùa là nhớ đến hai câu thơ thân thuộc của Ngài, nó thường được ca ngâm trong các pháp hội, có nơi c̣n treo nó ở trước cổng chùa:

 

                        “Mái chùa che chở hồn dân tộc

                         Nếp sống muôn đời của tổ tông.“

 

          Chúng tôi cảm nhận nơi Ngài một đời sống giản dị, mang phong độ một Thiền sư khả kính.  Niên Tuế đă cao mà trong kư ức của Ḥa-Thượng vẫn nhớ rơ về quê hương Việt-Nam, nơi tổ tiên ông bà đă sinh sống và gầy dựng bao đời, nơi mái chùa xưa Ngài xuất gia học đạo, bao h́nh ảnh và hành trang của các bậc đồng tu khả kính được Ngài ghi khắc sâu trong ḷng ḿnh.  Khi nhắc đến các bậc cao đức hy sinh v́ đạo, v́ dân tộc Ngài cảm động rơi ḍng nước mắt thương tiếc ngậm ngùi. Từ đó, tôi mới hiểu sâu sắc những tác phẩm Phật học mà Ngài viết, những văn kiện có giá trị lịch sử Phật-Giáo Việt-Nam, và những ḍng thi ca đọng măi trong ḷng người, đều chứa đựng tinh thần nhập thế.

 

            Khái niệm về cuộc đời và dân tộc tuy hai mà một tuy một mà hai, nó được ḥa quyện vào nhau.  Tiếng nói trong thơ của Ḥa-Thượng đă hiển hiện rơ nét phong độ của một Tăng sĩ hiểu rơ mọi sự biến đổi của hiện thực đời sống.  Nếu chúng ta t́m thấy trong “Cư Trần Lạc Đạo Phú “ của vua Trần-Nhân-Tông, cái dáng dấp của một bậc nhập thế tự tại: “hễ đói th́ ăn, mệt ngủ liền” - một nét đẹp thiền vị ở trong ḷng.  Th́ trong thơ của Ḥa- Thượng c̣n điểm thêm một nụ cười dịu dàng ấm áp trước mọi buồn vui sanh diệt giữa ḍng đời. Nụ cười hồn nhiên ấy có thêm sức mạnh giải tỏa mọi chướng ngại, sống ung dung tự tại để phụng sự tha nhân, vào đời với một nụ cười như một cuộc dạo chơi:

 

                        “Ta từ sanh tử về chơi,

                          Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với Trăng.“

 

            Cuộc đời và vườn thơ của Ngài, giọt nước mắt thương đời thương đạo, và nụ cười hồn nhiên đồng một thể vị, khóc để chia sẻ sự đau thương mất mát của đạo pháp, và của con người.  Nụ cười ấy và giọt nước mắt ấy là con mắt thứ ba siêu trên hiện thực, phát sanh từ năng lực trí tuệ của người học Phật với tấm ḷng nhiệt huyết.  “Ta từ sinh tử về chơi”, vẫn biết ḍng đời vốn là như thế, về chốn sanh tử mà chơi chỉ đem theo một tấm ḷng, để gắn trọn đời ḿnh với tha nhân, để chia sẻ những buồn vui dại dột trong nhân thế và để rung tiếng chuông cảnh tỉnh đưa người từ cơn mộng về chốn an vui vĩnh hằng.

 

            Trong thơ của Ngài, nhấn mạnh rằng đạo đức Phật-Giáo thấm nhuần với đạo đức dân tộc và trở thành nếp sống cao đẹp từ xưa tới nay.  Điều ấy cũng nhắn gửi cho những người học Phật, những người có lương tri nên ư thức rằng, Phật-Giáo Việt-Nam mà suy vong th́ dân tộc cũng lầm than đau khổ.  Đó cũng là một nhận định có giá trị triết lư nhân sinh xuyên suốt cả chiều dài lịch sử Phật-Giáo nói chung và lịch sử dân tộc nói riêng.  Đây là điều then chốt mà các bậc xuất gia luôn ghi nhớ trong ḷng để xác định lư tưởng và phương pháp hành đạo qua bao thời kỳ.

 

Đến nay, tuy già sức yếu, nhưng Ngài luôn sẵn sàng đem cái kinh nghiệm vàng ngọc trong cuộc đời tu học để trao truyền cho thế hệ trẻ đang tu học và hành đạo.  Với tôi, những ngày tháng ở hải ngoại xa quê hương, sống đơn phương một ḿnh tu học nơi thanh vắng, nhất là vào những đêm ngoài trời mưa tầm tả như cảnh trời mùa đông ở Việt-Nam, ḷng cảm thấy trống vắng khó tả, tôi nhớ lại lời dạy ân cần của Ḥa-Thượng: Ở đây, lúc nào buồn nên đọc hai câu thơ này:  “Ta từ sanh tử về chơi, ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng.”  Đọc xong, một nụ cười thầm kín và sự an lạc nhiệm mầu đến với ḷng tôi, và tự nhủ ḿnh rằng, hăy lắng ḷng ngồi yên trên chóp đỉnh để được măi măi mỉm cười với trăng.

                                             

                                                          Chùa Tam-Bảo, ngày 14 tháng 9 năm 2005

                                                                                   Thích-Đức-Trí