NIỆM PHẬT VÀ HÀNH THIỀN TRONG THỰC TIỄN TU HỌC

Thích Đức Trí

      (kính chia sẽ đến quư Phật tử đang t́m hiểu về pháp Thiền Tịnh Song Tu)

1.       sở h́nh thành pháp hành Thiền Tịnh song tu.

1.1                 Bối cảnh lịch sử của Phật giáo trước sự ra đời của phương pháp Thiền Tịnh song tu

1.2                 Thiền tịnh song tu là thành quả đặc thù của Phật giáo Phát triển

1.3                 Các vị tôn sư tiêu biểu cho xu hướng Thiền Tịnh song tu (Đại sư Trí Khải, Vĩnh Minh Diên Thọ, Trần Thái Tông, …)

2.       Những điểm tương đồng, dị biệt và tính bổ trợ lẫn nhau giữa Thiền và Tịnh.

2.1                 Những tương đồng

2.2                 Những dị biệt

2.3                 Bổ sung cho nhau giữa Thiền và Tịnh

3.       Niệm Phật và hành Thiền trong đời sống xă hội hiện đại.

3.1                 Đặc điểm của đời sống và tính khả dụng Thiền Tịnh song tu

3.2                 Thiền Tịnh song tu dưới cách nh́n của các bậc cao Tăng thời hiện đại.

4.       Kết luận: Thiền Tịnh song tu rất phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời hiện đại.

 

                                                      Nội dung

 

1.     Cơ sở h́nh thành pháp hành Thiền Tịnh song tu.

1.1              Bối cảnh lịch sử của Phật giáo trước sự ra đời của phương pháp Thiền Tịnh song tu

Trên phương diện Phật giáo sử, dễ dàng nhận thấy Thiền Tông và Tịnh Độ Tông xuất hiện trong khoảng thời gian trước và sau đời Tùy-Đường[1]; từ đó pháp niệm Phật Thiền h́nh thành và liên quan sự phát triển pháp Thiền Tịnh Song Tu. Vấn đề này, trước tiên cần t́m hiểu về ư nghĩa niệm Phật trong kinh điển Phật giáo Nguyên Thủy, cụ thể trong kinh A Hàm, kinh tạp A Hàm, kinh Tăng Chi và trong kinh điển Đại Thừa. Thời Phật tại thế đă dạy đệ tử xuất gia, tại gia về phương pháp niệm Phật như là phương thức quán niệm hỗ trợ cho pháp thiền định, bảo hộ đời sống an lành, đối trị mọi phiền năo. Kinh Trung A Hàm có dạy: “Thế Tôn là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự , Thiên Nhân Sư, Phật, Chúng Hựu[13] '. Người ấy sau khi niệm tưởng Như Lai như vậy, ác tham nếu có liền bị tiêu diệt. Những pháp tạp uế, ác bất thiện, nếu có cũng bị diệt.”[2] Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật có dạy cho các đệ tử xuất gia như sau: Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là ǵ? Chính là Niệm Phật. Chính một pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.[3] . Trong nhân duyên thuyết pháp cho các đệ tử cư sĩ, Đức Phật dạy như sau: “Bấy giờ Thế Tôn bảo các khách buôn: “Các ông sắp vào nơi hoang mạc, sẽ gặp nhiều khủng bố, tâm kinh hoàng dựng đứng cả lông, lúc ấy nên niệm Như Lai sự: ‘Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,... cho đến Phật, Thế Tôn. Niệm như vậy th́ mọi khủng bố đều tiêu trừ. Lại niệm pháp sự, ‘Chánh pháp luật của Phật, được thấy trong hiện tại[42], có thể xa ĺa sự thiêu đốt, không đợi thời tiết, được thấu suốt, được thân cận[43], duyên vào tự ḿnh mà giác tri [44].’ Lại niệm Tăng sự, ‘đệ tử của Thế Tôn thiện hướng, chánh hướng... cho đến là ruộng phước của thế gian.’ Niệm như vậy, th́ mọi sự khủng bố đều được tiêu trừ.”[4]

Điều quan trọng ở đây ư nghĩa của Pháp niệm Phật được Đức Phật nhấn mạnh trong hệ kinh Nguyên Thủy, cụ thể trong kinh Nikaya và kinh A Hàm. Niệm tức quán niệm, nhớ nghĩ phẩm đức, oai lực, trí tuệ của Phật; niệm Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng, giúp tâm an định vượt qua mọi phiền năo khủng bố và hướng đến sự giác ngộ, chứng đắc Niết Bàn. Phương thức tu niệm ở đây nhắm đến các hàng đệ tử Thanh Văn Tăng và chúng Phật tử nói chung.

Trong kinh điển Đại Thừa Đức Phật dạy Pháp Niệm Phật và giới thiệu cảnh giới Tịnh Độ một cách có hệ thống. Đó là nền tảng căn bản mà các tổ sư từ ư nghĩa niệm Phật, phương pháp niệm Phật và thành quả của pháp niệm Phật được triển khai từ trong kinh luận mà thành lập Tịnh Độ Tông. V́ pháp môn tu này phổ cập cho mọi tầng lớp người, cho nên sự phát triển rất nhanh và chiếm ưu thế ngay từ khi vừa mới h́nh thành. Khi Phật Giáo du nhập vào Trung Hoa, ngài Huệ Viễn (334-416), vị Tăng sĩ hành tŕ pháp niệm Phật, được tôn xưng là sơ tổ tông Tịnh Độ.  Đến đầu thời đại nhà Đường th́ ngài Đàm Loan (476-542), ra đời sau ngài Huệ Viễn viên tịch 60 năm, đă có công rất lớn trong việc phát huy phương pháp tŕ danh niệm Phật cầu sanh Tịnh độ. Đệ tử ngài Đàm Loan là ngài Đạo Xước đă nhiệt tâm tu Tịnh Độ, phát triển rộng răi phương pháp tŕ danh niệm Phật. Ngài Thiện Đạo thời cận đại được xem là tổ sư Tịnh độ lại là đệ tử của ngài Đạo Xước. Thiền tông và Tịnh tông lúc bấy giờ đang phát triển song hành. Ngài Đàm Loan ảnh hưởng quan niệm “Nan hành đạo” và “Dị hành đạo” của Long Thọ qua tác phẩm luận Tỳ Bà Sa: “Quốc độ Ta bà không có đức Phật ra đời, nên siêng năng tinh tấn tu đạo mới mong đạt thánh quả, đây mới là điều khó khăn cho nên mới gọi phương pháp khó (nan hành). Giả sử lấy nhân duyên tin Phật mà nguyện sanh Tịnh độ, như niệm Phật A-di-đà để văng sanh cơi Cực lạc, rồi chứng quả ở cơi Cực lạc, đó chính là phương pháp dễ hành (dị hành).” [5] Do vậy, ngài Đàm loan rất chú trọng pháp niệm Phật, xem pháp Niệm Phật là pháp môn thiết thực và thích hợp với mọi căn cơ trong thời mạt pháp.

Đến thời đại Thiên Thai Trí Di (538-597) thuộc Thiên Thai tông, bản thân ông rất tinh thông Thiền giáo, một hành giả uyên thâm kinh luận Đại thừa, có nhiều tác phẩm thiền học và luận giải, nhưng hết ḷng hoằng dương Tịnh độ. Đặc biệt phát huy đặc trưng liên quan đến tư tưởng Thiền Tịnh, điều này được nhận thấy qua tác phẩm “Ngũ phương tiện niệm Phật môn”.

Trong thời ḱ đầu của Thiền tông đến thời tổ Đạo Tín (580-651), Niệm Phật danh trong Thiền tông đă xuất hiện. Nhưng từ Tổ Đạo Tín đến tổ Hoằng Nhẫn đă khai mở “Đông Sơn Pháp Môn”, chủ trương: “Niệm Phật danh, linh tịnh tâm”, mục đích là phương tiện nhiếp tâm, biện tâm, chứng ngộ thật tướng.  Đạo Tín tiếp nhận tư tưởng pháp yếu từ ḍng thiền tổ Đạt Ma, nhưng đă từng áp dụng pháp: “Nhất hạnh tam muội” từ “Văn Thù Thuyết Bát Nhă Kinh” trong việc giáo hóa hậu học. Đạo Tín chủ trương: “Tâm Niệm Phật là Phật, vọng niệm là phàm phu”; đó là quá tŕnh tu niệm Tâm và Phật hợp nhất. Ngay thời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, do nhu cầu tu học ngài đă chủ trương quan niệm đốn tiệm song hành. Huệ Năng tiếp nhận pháp đốn ngộ, Thần Tú tiếp nhận pháp tiệm tu.

Nội dung của Pháp Nhất hạnh tam muội được Phật dạy trong kinh như sau: “Pháp giới một tướng, thể nhập vào pháp giới, gọi là nhất hạnh tam muội. Nếu có người nam, người nữ nào muốn nhập vào pháp nhất hạnh tam muội, nên khéo nghe pháp Bát nhă ba la mật, như pháp mà tu hành, sẽ nhập vào pháp nhất hạnh tam muội.  Như tâm duyên quán pháp giới, bất thối, bất hoại, không nghĩ bàn, không chướng ngại, không tướng trạng. Người nam, người nữ đó, muốn nhập vào Tam muội này, ở tại một nơi thanh nhàn, xả bỏ tâm ư ô nhiễm, không giữ tướng trạng trong tâm, chuyên tâm một vị Phật mà xưng danh hiệu. Tùy theo phương vị, ngồi ngay thẳng đoan nghiêm, nhất tâm xưng niệm tương tục danh hiệu Phật, tức là trong nhất tâm niệm có thể thấy ba đời tất cả chư Phật. V́ sao như vậy? Niệm công đức vô lượng vô biên của của một vị Phật cũng đồng với niệm công đức biện tài vô lượng của vô lượng chư Phật.  Nhập nhất hạnh tam muội này th́ thông suốt rơ ràng vô số các cơi nước chư Phật vốn không có tướng sai biệt.”[6]

 Nhất hạnh tam muội cũng là cương lĩnh niệm Phật chung cho hành giả pháp môn Tịnh độ, đó là niệm Phật chứng đắc Tam muội (Chánh định). Tư tưởng chứng đắc Tam muội cũng được Đức Phật c̣n nhấn mạnh trong kinh Lăng Nghiêm, qua Phẩm “Đại Thế Chí Niệm Phật viên thông chương”, chương này là then chốt dạy tu niệm Phật. Kinh Văn Thù thuyết Bát Nhă, kinh Lăng Nghiêm và kinh Quán Vô Lượng Thọ có sự  liên hệ tư tưởng chung của Thiền và Tịnh. Nhưng quan trọng nhất pháp niệm Phật Thiền trong Phật Giáo thời Đường, thiền Tăng từ tông chỉ quán tâm thủ nhất pháp kiến tánh thành Phật đă có xu thế vận dụng tọa thiền chuyên niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Cho nên có phương pháp Niệm Phật Thiền xuất hiện trong giới Thiền Tăng. Phương pháp này y cứ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Theo các học giả nghiên cứu Trung Quốc Phật Giáo sử xác nhận thêm rằng kinh Quán Vô Lượng Thọ là kinh điển then chốt kết nối pháp hành của Thiền Tông Và Tịnh Độ Tông”[7]. V́ tu niệm Phật, hay tu Thiền khi hành pháp niệm Phật Tam Muội thành tựu th́ đạt được mục đích chứng ngộ.

Tam tạng Từ Mẫn (702), một pháp sư tinh thông kinh luận, chẳng những chủ trương Thiền Tịnh song tu, mà c̣n nhận định rằng các tông Thiền, Tịnh, Luật đều cùng vận dụng. Ngài phê b́nh quan điểm cho rằng pháp tu Tịnh độ hướng ngoại là sai lầm mà c̣n tán dương niệm Phật văng sanh. Trong tác phẩm: “Vạn Thiện Đồng Quy” của Vĩnh Minh Diên Thọ có trích lời dạy của Tam Tạng Pháp Sư Từ Mẫn như sau: “Thánh giáo đă dạy, chánh thiền định là chế tâm một chỗ, niệm niệm tương tục, xa rời hôn mê, giữ tâm b́nh đẳng. Nếu bị hôn trầm th́ chuyên tâm niệm Phật. Hành đạo tụng kinh, nói pháp giáo hóa chúng sanh, vạn hạnh không bỏ, đem cả sự nghiệp tu hành hồi hướng văng sanh Tây Phương Tịnh Độ”[8]

Thiền Tịnh tuy là từ hai phương pháp nhưng mục đich cứu cánh là một, có y cứ kinh điển từ kinh Lăng Nghiêm, kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhă, Kinh Quán Vô Lượng thọ. Vĩnh Minh thiền sư h́nh thành tư tưởng Thiền Tịnh Song tu, qua tác phẩm: “Tông Cảnh Lục”. Trong đó tổng hợp tư tưởng Thiền Tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm Tông, và Pháp tướng tông, đây là bộ sách Phật học quan trọng trong thời đại nhà Đường. Ngoài ra c̣n có bộ “Vạn Thiện Đồng Quy”. Những quan điểm vừa nêu là đứng trên phương diện Phật giáo sử mà nhận thức, thực tế diễn biến phát triển và h́nh thành quan điểm Niệm Phật Thiền được xem là xu hướng tất yếu trong quá tŕnh  truyền bá Phật pháp đến nhiều thành phần quần chúng.

1.2 Thiền tịnh song tu là thành quả đặc thù của Phật giáo Phát triển

Nay nói Thiền Tịnh song tu là kết quả đặc thù của Phật giáo, đặc thù ở đây mang hai phương diện, một là nhu cầu thích ứng căn cơ người tu tập, hai là mục đích truyền giáo của các bậc tổ sư. Theo quan điểm tu học của Nguyên Thủy Phật Giáo, y cứ vào hệ kinh Nikaya và hệ Kinh A Hàm. Thực hành thiền quán, chứng tứ Thiền và bốn quả vị thanh văn, quả vị sau cùng là chứng đắc A La Hán thành tựu giải thoát. Vấn đề này quá rơ ràng không bàn tại đây. Khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa, Bồ Đề Đạt Ma được xem là vị tổ đầu tiên thiền Tông. Từ Tổ Bồ Đề đến sau đời Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Phật giáo thiền có sự chuyển hướng. Thiền tông chủ trương bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. Yêu cầu chứng ngộ thật tướng, tức thấy tánh thành Phật. Lư tưởng rất cao nhưng vai tṛ tiếp dẫn hậu học chắc chắn có trở ngại, v́ tu chứng thiền tông đa số cần bậc đại căn cơ, đă tu nhiều kiếp mới có khả năng lănh hội phần chứng Thiền trọn vẹn như các Tổ sư.

Tịnh độ là phương tiện thù thắng, giáo nghĩa do Phật Thích Ca dạy trong các kinh điển Đại Thừa, Như Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ và nhiều kinh khác. Pháp tu niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ là con đường an toàn nhất trong hành tŕnh vượt sông sanh tử luân hồi. Ở đây cần phải hiểu rằng việc tu Tịnh độ tin nhận đức từ bi và bổn nguyện vĩ đại của Phật A Di Đà và mười phương chư Phật luôn hộ niệm chúng sanh niệm Phật. Tây Phương Cực Lạc là thế giới bổn nguyện của Phật A Di Đà, một hoàn cảnh thuận lợi cho sự chứng đắc quả vị Phật. Nếu nói đó là cảnh giới phương tiện của người tu đạo cũng có thể đúng, v́ kinh dạy khi gặp Phật A Di Đà được nghe Pháp Âm và chứng ngộ sẽ được bổ xứ làm Phật.

Thực tiễn có người thích tu Thiền, có người thích Tịnh Độ. Nếu tu thiền chưa chứng ngộ sợ mê lạc trong sáu đường và ba cơi th́ phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, có nhiều duyên lành nên mau chóng giác ngộ. Kinh dạy rằng, ngay cả chúng sanh trong mười phương thế giới biết hồi tâm niệm Phật cũng được văng sanh, huống ǵ người tu thiền. Được chứng ngộ sau khi văng sanh là kết quả của sự hỗ trợ giữa tự lực và tha lực, c̣n hơn khả năng hạn chế mà bỏ quên đi nguyện lực của Phật.

Giáo nghĩa Tịnh độ rất thâm sâu, hàm chứa điểm cứu cánh của Thiền và Tịnh. Trong đó tŕ danh niệm Phật được văng sanh, quán tưởng niệm Phật cũng được văng sanh; cao hơn nữa thực hành thật tướng Niệm Phật chứng ngộ thật tướng ngay trong đời này và được văng sanh tại phẩm vị cao. Thực tướng niệm Phật, hay c̣n gọi là chứng ngộ bản tâm, minh tâm kiến tánh, đâu khác ǵ cảnh giới chứng ngộ Thiền Tông. Tùy theo căn cơ mà phát huy năng lực niệm Phật có thành quả sai biệt. Quan điểm niệm Phật là niệm Tâm. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhă, đều nhấn mạnh pháp Niệm Phật Tam Muội. Từ cơ sở đó, Thiền Tịnh song tu được h́nh thành, đó là một trong những thành quả của Phật giáo phát triển.

Thiền Tịnh Song Tu là sự vận dụng giáo lư trong quá tŕnh tu tập có căn cứ và phù hợp các kinh luận Đại thừa. Đó là từ kinh điển: “Văn Thù Thuyết Bát Nhă Kinh” với tư tưởng “Niệm Phật Tam Muội; từ “Kinh Quán vô lượng thọ” với tư tưởng từ quán Phật mà đạt tâm Phật: “V́ chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào khắp trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, nên lúc các ngươi tâm tưởng Phật, tâm ấy tức là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật.”[9] Từ pháp quán tưởng Phật, niệm Phật mà chứng tâm Phật và tâm ấy là Phật. Đoạn kinh trên rất quan trọng cho pháp tọa thiền quán Phật, niệm Phật. Nhưng muốn chứng tâm Phật, hay chứng Thật tướng th́ phải đắc niệm Phật tam muội. Ngoài ra, Tịnh Độ tông chủ trương chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật hướng tới văng sanh. Mục đích văng sanh như là chọn cảnh giới thù thắng nhất trong mọi cảnh giới thuận lợi cho sự tu học giác ngộ trọn vẹn. Đó là trên căn bản tự lực và nương nhờ tha lực của Phật A Di Đà.

1.3 Các vị tôn sư tiêu biểu cho xu hướng Thiền Tịnh song tu (Đại sư Trí Giả, Vĩnh Minh Diên Thọ, Trần Thái Tông…)

Giáo nghĩa của Tịnh độ liên quan đến Thiền và giáo lư Thiền cũng liên quan đến Tịnh. Thiền hay Tịnh cũng đặt nền tảng trên Giới-Định-Tuệ. Thiền hay Tịnh cũng quy về tại tâm. V́ sao, nếu Thiền chứng ngộ tại tâm, Tịnh độ cũng có khả năng chứng ngộ thật tướng tại tâm. Nếu văng sanh th́ tâm này văng sanh, nhưng tùy theo cấp độ mà có phẩm vị cao thấp. Cho nên trên phương diện Thiền Tịnh song tu từ tâm mà luận, từ nhu cầu tu học mà triển khai th́ có khác nhau do từ cách nh́n của mỗi con người, chứ giáo lư Phật luôn quy về một quan niệm là giúp chúng sanh giải thoát khổ đau sanh tử.

Thiên Thai Trí Di (538-579) c̣n có biệt danh là đại sư Trí Giả, có nhiều tác phẩm liên quan giáo lư Thiền và Tịnh. Cụ thể trong Ngũ Phương Tiện Niệm Phật Môn, đă luận giải về năm tiêu chí của pháp niệm Phật Tam Muội: “Hành giả niệm Nam mô A Di Đà Phật, nguyện sanh cơi Cực lạc, c̣n gọi là pháp môn xưng danh hiệu Phật nguyện văng sanh. Quán tưởng thân Phật, chuyên chú không tán loạn, th́ sẽ thấy tướng Phật quang minh rực rỡ chiếu soi hành giả, lúc bấy giờ tất cả tội chướng đều được tiêu trừ, gọi là pháp môn quán tướng Phật diệt tội. Quán tướng Phật này là từ tâm khởi không ngoài cảnh khác, gọi là pháp môn quán các cảnh do tâm sanh. Quán tâm này, không có thực tướng mạo nắm bắt, gọi là pháp môn quán xa rời tâm và cảnh. Lúc bấy giờ, tâm hành giả hướng đến trạng thái thiền định sâu lắng, buông xả tất cả tâm thức và ư thức, nhập Niết bàn, nương vào năng lực mười phương chư Phật gia tŕ và hộ niệm hưng khởi trí tuệ.  Hành giả ở trong nhất niệm, tịnh Phật quốc độ và thành tựu chúng sanh. Công đức tu học bốn giai đoạn trước trăm ngàn vạn phần không bằng một phần giai đoạn Tánh khởi viên thông này. V́ sao như vậy, không c̣n luận ở công sức mà có diệu dụng cùng khắp, nghĩa là từ một thân mà biến thành vô lượng thân. Hành giả tùy duyên hành đạo, được Phật hộ niệm thấu rơ tận cùng nghĩa lư Phật pháp, thành tựu mười hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. Bổn nguyện như vậy, thể nghiệm pháp vốn như vậy, tức gọi là pháp tánh khởi viên thông.[10] Tóm lại năm phương pháp niệm Phật, chứng đắc chánh định trọn vẹn, tâm vào thiền định sâu lắng, buông xả tâm thức và ư thức, chứng nhập Niết Bàn. Niệm Phật có nhiều cấp độ chứng ngộ khác nhau, niệm Phật đưa tâm vào sự chứng đạt trạng thái thiền định rất cao.

Đặc biệt các thiền sư đời Tống cũng tán dương tịnh độ, như đại sư Thiên Y Nghĩa Hoài, thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (960-1279) đều chấp nhận quan niệm thiền tịnh song tu. Theo ngài Vĩnh Minh Diên Thọ th́ Thiền-Tịnh là sự phát triển hài ḥa và phổ biến. Nhưng trong thực tế phát triển của Phật Giáo th́ vẫn có những người nhận thức khác nhau về ư nghĩa pháp môn, thậm chí có hiện tượng đứng về Thiền chỉ trích về Tịnh, đứng phía Tịnh chỉ trích về Thiền. Mục đích đem đến thái độ nhất quán của đạo Phật đối với mọi thành phần tu tập, Vĩnh Minh Diên Thọ chủ trương Thiền Tịnh Song Tu. Thứ nhất khẳng định Thiền hay Tịnh đều là Pháp môn Phật dạy. Thứ hai là khẳng định hai pháp môn đều là phương thức tu tập đưa đến sự chứng ngộ và giải thoát. Thứ ba là luận bàn pháp môn Thiền Tịnh Song Tu thích ứng với số đông người tu học. Bản thân Vĩnh Minh Diên Thọ Là thiền sư phát tâm hoằng dương Tịnh Độ là thái độ chánh kiến từ Thiền nh́n sang pháp môn niệm Phật, một tầm nh́n sâu sắc từ lập trường kinh luận cho đến phương thức giáo hóa.  Chúng ta thấy quá rơ ràng trong lời khai thị sau:

Có Thiền không Tịnh độ

Mười người, chín lạc lộ.

Ấm cảnh khi hiện ra

Chớp mắt đi theo nó.

Không Thiền có Tịnh độ

Muôn tu muôn thoát khổ

Văng sanh thấy Di Đà

Lo ǵ chẳng khai ngộ?

Có Thiền có Tịnh độ

Như thêm sừng mănh hổ.

Hiện đời làm thầy người

Về sau thành Phật, Tổ.

Không Thiền không Tịnh độ

Giường sắt, cột đồng lửa!

Muôn kiếp lại ngàn đời

Chẳng có nơi nương tựa.”[11]

Theo thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, người tu thiền là bậc thượng căn,có ư chí mạnh mẽ, nếu hướng về Tịnh tức đầy đủ hai yếu tố tự lực và tha lực th́ pháp tu mau thành tựu. Thiền tịnh không c̣n là sự phân biệt mà có tính bổ sung  trong lĩnh vực tu đạo giải thoát.

Quan điểm Thiền Tịnh Song tu của Trần Thái Tông(1218-1277).Ông là một thiền sư lỗi lạc trong thờ đại nhà Trần, một giai đoạn Phật giáo ảnh hưởng tư tưởng Thiền sâu sắc trong ḷng quần chúng và trên b́nh diện đạo đức, văn hóa xă hội. Bên cạnh niệm Phật Văng sanh, pháp niệm Phật của Trần Thái Tông c̣n là sự thanh lọc tâm. Niệm Phật đưa đến trạng thái tự thanh tịnh tâm: “Thiện niệm phát khởi, ác niệm tiêu tan, duy c̣n thiện niệm”[12]. Đặc biệt, phương pháp bất nhị tướng niệm Phật là tương ưng với pháp trực chỉ Thiền. Tức là niệm rời xa năng sở, không có quan niệm về chủ thể và đối tượng. Quan điểm tâm tức là Phật, niệm Phật tức là niệm tâm:Tâm tức là Phật, không muốn sự thêm vào. Ư niệm là bụi, không dung một điểm nào ở trong tâm ấy, ở đấy vốn trong sạch bụi nhơ, cho nên bao giờ cũng như thế không vang động gọi là Như như, tức là thể của Phật. Thực thể Phật thế nào th́ thực thể ngă như thế, không có hai h́nh tướng. H́nh tướng và h́nh tướng không có hai, yên lặng c̣n luôn mà không biết, thế là Phật sống[13].

Pháp môn Niệm Phật Thiền có bắt nguồn từ cơ sở chính yếu trong kinh điển. Quan điểm niệm Phật tam muội của đại sư Trí Giả vận dụng từ pháp “Nhất Hạnh Tam Muội trong Kinh Văn Thù Sư Lợi Thuyết Bát Nhă, trong Kinh Lăng Nghiêm và kinh Quán Vô Lượng Thọ mà triển khai năm phương tiện niệm Phật tam muội. Quan điểm dung hợp thiền tịnh là có cơ sở lư luận, về thời đại sau Vĩnh Minh Diên Thọ phát huy và vận dụng rơ nét hơn. Trần Thái Tông cũng không ngoại lệ trong vấn đề tiếp nhận các quan điểm đó, có thể từ kinh luận, có thể từ pháp tu đă h́nh thành từ các bậc tiền bối.

 

2.       Những điểm tương đồng, dị biệt và tính bổ trợ lẫn nhau giữa Thiền và Tịnh.

 

2.1              Những tương đồng:

Pháp môn Thiền tông hay Tịnh độ tông cũng thuộc giáo lư của Phật dạy. Trên căn bản sự tu tập điều quan trọng là hạnh giải tương ưng. Tức phải an trú trong đời sống với tiêu chí Giới - Định- Tuệ để khởi tu. V́ bản chất tu tập là thanh tịnh hóa nếp sống con người. Thiền sư Trần Thái Tông nhấn mạnh về giới như sau: “Kinh nói rằng: Giới như mặt đất bằng, mọi điều thiện từ đó sinh ra. Giới như thầy thuốc giỏi chữa được các bệnh. Giới như hạt minh châu, phá vỡ mọi tối tăm. Giới như thuyền bè, vượt qua bể khổ. Giới như chuỗi ngọc làm pháp thân trang nghiêm. Kẻ có tội cần sám hối. Nếu không sám hối, tội càng sâu thêm. Một lần bỏ mất thân ḿnh th́ muôn kiếp không thể t́m lại. Ngày nay tuy yên, mai sau khó giữ. Vậy nên giữ phép này, vượt mau qua đường sanh tử; thờ Phật làm thầy, trước hết tuân theo giới luật. Bậc cổ đức có nói: qua sông nên dùng mảng, đến bến hết cần thuyền. Như vậy người xưa coi giới là thuyền mảng. Ngày nay những người không dùng phương tiện đó qua sông mà tới được bờ bên kia là th́ thật hiếm vậy[14]

Niệm Phật hay Thiền là phương tiện thâu nhiếp tâm, giúp tâm an định.Tỉnh giác chánh niệm, nhất tâm niệm Phật, từ tâm tán loạn an trú vào danh hiệu Phật, tức nhiếp tâm vào định. Từ theo hơi thở mà niệm, đếm từ một đến mười niệm Phật mà niệm, tâm chuyên chú một danh hiệu Phật mà niệm đến nhất tâm, có lúc hành giả thấy thân tâm rỗng rang, đạt đến thanh tịnh không c̣n năng sở. Thiền Tịnh gặp nhau một chỗ là có thể đạt giải thoát thông qua niệm Phật Tam muội, hay kiến tánh.

Thiền hay Tịnh đều là phương pháp điều ḥa thân tâm, đưa đến trạng thái an lành, giải thoát mọi ràng buộc trong đời sống. Một người phát tâm tu học tinh chuyên, chất liệu chánh niệm, thoát tục biểu hiện rơ trong đời sống, giúp con người tu bồi dưỡng nhiều phẩm hạnh tốt đẹp trong đời sống. Đó là tâm thiện thường sanh, tâm ác thường bị diệt, đời sống giàu ḷng từ bi, tự tại và an lạc.

Thiền tích cực là nhập thế vô ngại, không vướng mắc, Tịnh độ nhập thế làm tất cả các hạnh lành trong đời sống nhân sanh, xă hội là năng lực phước đức hồi hướng Tây Phương. Đó bản sắc Phật giáo đại thừa, cũng là vai tṛ của đạo Phật trong tinh thần Tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên.

2.2              Những dị biệt

Dựa trên thực tế, có vài nhận xét mang tính tương đối về vài điểm khác nhau của Thiền và Tịnh.

Thiền tông tin vào tự lực, tu tập để chứng ngộ thực tướng thông qua kiến tánh. Nghĩa là cầu Phật tại tâm. Tịnh độ tin vào tha lực bổn nguyện Phật A Di Đà và mười phương chư Phật.

Tịnh độ tông chú trọng niệm Phật nhất tâm bất loạn văng sanh tịnh độ. Thiền tông áp dụng niệm Phật để biện tâm, kiến tánh, niệm Phật lịch sử, tức Phật Thích Ca hay niệm danh hiệu một vị Phật.

Tịnh độ tông chuyên niệm Phật A Di Đà và nguyện sanh cơi cực lạc. Thiền tông quan niệm chứng ngộ, nếu chưa chứng ngộ sanh vào các cơi lành. Tịnh độ quan niệm nếu chưa chứng ngộ có đầy đủ Tín, Nguyện, Hạnh th́ cũng được dự phần đới nghiệp Văng sanh.

Tịnh độ tông chú trọng đọc tụng kinh điển đại thừa, làm nhiều phước lành, thâm nhập kinh tạng hồi hướng Tây Phương. Thiền tông chủ trương bất lập văn tự, chuyên về thực hành thiền tập, hay tham thoại đầu, nhân duyên thời tiết đầy đủ khai ngộ

Tịnh độ mang tính tiệm tu, nhưng có thêm xu hướng cầu thành Phật sau khi văng sanh. Tịnh độ chuyên dạy phát bồ đề tâm, xem Tây phương là cảnh giới phương tiện thù thắng để sớm thành Phật, trở lại Ta Bà cứu độ chúng sanh.

Pháp tu Tịnh độ là dùng nhiều phương pháp niệm Phật, như tŕ danh, quán tưởng, quán tượng và thật tướng; trong khi Thiền tông chủ trương nhất pháp quán tâm chứng ngộ chân lư.

2.3              Sự bổ sung cho nhau giữa Thiền và Tịnh

Mục đích của Phật pháp là đem lại chánh kiến cho con người đi trên con đường bỏ khổ t́m đến sự an vui. Biết bao nhiêu vị tổ sư Thiền, hay tổ sư Tịnh độ đă hết ḿnh v́ lợi ích cho con người, cho nhân loại chúng sanh mà hoằng truyền chánh pháp. Tùy theo căn cơ tŕnh độ, nhu cầu con người mà mở bày phương tiện pháp môn. Ngay thời Phật Thích Ca tại thế có nhiều tông phái như thời nay hay không? Đúng là không, nhưng quá tŕnh Phật giáo phát triển, phân chia bộ phái, triển khai tông môn là mục đích v́ nhu cầu tri thức học Phật và sự thích ứng tu tập của con người. Phật nói ra nhiều phương thức tu hành, nhiều cấp độ giáo lư. Có lẽ với trí tuệ siêu việt Ngài đă tiên liệu sẽ có nhiều điều luận bàn về sự vận dụng giáo lư trong chúng đệ tử sau khi Ngài nhập diệt. Phật đă từng dạy:  “Này các Tỳ khưu, cũng giống như những ǵ Ta đă biết rơ mà không giảng dạy cho quư vị thật là quá nhiều; c̣n những ǵ mà Ta đă giảng dạy thật là quá ít. Tại sao Ta không giảng dạy tất cả những điều ấy? Bởi v́ có những điều không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho đời sống thanh cao, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”[15]

Chúng ta hiểu, hệ thống kinh điển Đại Thừa là do Phật dạy, đặt nền tảng trên Giới Định Tuệ, không ngoài nguyên lư Tam Pháp Ấn. Có thể, có người không chấp nhận quan điểm Tịnh Độ đại thừa tức là không tin lời Phật dạy? Lịch sử phát triển Phật giáo cho thấy, vai tṛ giáo lư ấy vẫn đem đến sức sống giải thoát và tri thức cho nhân loại. Nếu không chấp nhận thế giới quan Phật giáo đại thừa, không tin có Tây Phương cực lạc th́ cũng như không tin có thế giới chúng ta đang hiện hữu, không tin có địa ngục hay các cơi trời! Tịnh độ là thế giới bổn nguyện Đức Phật, hoàn toàn phù hợp nguyên lư y báo chánh báo. Phát nguyện văng sanh là từ bỏ thế giới thai sanh, noăn sanh, thấp sanh khổ đau để được hóa sanh trong hoa sen cơi Tịnh Độ, mau chứng quả vị Phật.

 

3.     Niệm Phật và hành Thiền trong đời sống xă hội hiện đại.

3.1.Đặc điểm của đời sống và tính khả dụng Thiền Tịnh song tu

Thiền hay Tịnh đều là pháp môn tu thực dụng đối với con người trong mọi thời đại. Nếu tu Thiền mà có sự hướng dẫn của các bậc thầy có tri thức và kinh nghiệm tâm linh th́ rất mau thành tựu giải thoát. Nếu tu Tịnh mà y theo pháp niệm Phật, đầy đủ Tín, Nguyện và Hành th́ được văng sanh. Vấn đề ở đây tùy theo cơ duyên mà thực hành tu tập, phải hội đủ điều kiện để hạ thủ công phu mới là quan trọng. Nếu không, Thiền không đạt, Tịnh không thành, th́ thật là phí một cuộc đời tu. Theo kinh luận tŕnh bày, nếu người tu Thiền thấy chưa lănh hội mà chân thành phát nguyện văng sanh cũng được thành tựu. Nếu người tu Tịnh niệm Phật đắc Tam muội cũng có khả năng chứng ngộ thật tướng.

Nhưng có kinh nghiệm thực tiễn rằng, Thiền hay Tịnh trong quá tŕnh tu tập thường là có tuân thủ nguyên tắc riêng, như một bài toán có hai phương pháp giải để t́m ra đáp số. Vấn đề không nên đứng trên lập trường lư luận của phương pháp này mà so sánh và không chấp nhận lư luận của phương pháp kia, mà nên xem đáp số sau cùng. Điều đó khi tu tập người ta chọn Tông là nghĩa đó. Tông tức tông chỉ, hướng đi, lập tŕnh th́ đương nhiên mang tính riêng biệt, nếu không tuân thủ nguyên tắc ấy th́ các Tông không thể thành lập.

Nay đặt vấn đề kết quả của sự tu tập, theo Nguyên Thủy Phật Giáo, Thiền phải trải qua thiền quán, chứng đắc tứ thiền, bát định, sau cùng đắc quả A La Hán, nếu chưa chứng đạt kết quả đó, sẽ tùy theo cấp độ tu chứng các cấp Thiền mà được sanh các cơi Thiên. Tu theo Thiền tông, nếu không chứng ngộ thật tướng th́ cũng được sanh vào các cơi lành để tu tập cho đến chứng ngộ. Theo giáo lư Tịnh Độ, với tư tưởng đới nghiệp văng sanh đưa đến niềm tin cho mọi người phát tâm tu niệm Phật.

3.2.Thiền Tịnh song tu dưới cách nh́n của các bậc cao Tăng thời hiện đại.

Trước khi đề cập đến quan niệm các bậc cao Tăng hiện đại về pháp môn Thiền Tịnh song tu, xin đưa ra qua niệm truyền thống của các bậc cao tăng cận đại để xác minh rơ vấn đề. Thiền Sư Duy Tắc trả lời Hành Giả Tịnh Độ như sau: “Ḥa thượng Vĩnh Minh phơi bày tâm can, chủ trương Tịnh độ, mong họ tự cứu bản thân ḿnh. Ngài chuyên tâm hành tŕ, giáo hóa kẻ khác, nên lúc lâm chung biết trước giờ mất, lại có muôn ngàn điềm lành ứng hiện, toàn thân thành xá-lợi. Đâu chỉ có ngài Vĩnh Minh, mà những Thiền sư như : Tử Tâm Ngộ Tân, Chơn Hiết Thanh Liễu, Thiên Y Nghĩa Hoài, Viên Chiếu Tông Bản, Từ Thọ Hoài Thâm, Nam Nhạc Tuệ Tư, Tịnh Từ Đại Thông, Thiên Thai Hoài Ngọc, Lương Đạo Trân, Đường Đạo Xước, Tỳ Lăng Pháp Chân, Cô Tô Thủ Nột, Bắc Giản Giản, Thiên Mục Lễ … đều là bậc tông tượng trong Thiền môn, mật tu hiển hóa, xiển dương yếu chỉ Tịnh độ, không hẹn mà gặp, nào đâu chỉ có ngần ấy vị.”[16]

Hầu hết các thiền sư nhập thế giáo hóa chúng sanh thường quan niệm rằng Tịnh độ là pháp môn rất thực tiễn đối với mọi người trong xă hội. Quan điểm Thiền Tịnh song tu khẳng định mục đích tối hậu sự tu tập trong Phật giáo chỉ là một, đó là con đường thoát khỏi khổ đau sanh tử. Từ y cứ theo Kinh luận, các Bồ tát luận sư như Thế Thân, Vô Trước, Mă Minh, Long Thọ cho đến mười ba vị Tổ sư đều tán dương và truyền bá giáo lư Tịnh Độ. Tuy rằng các Ngài đă liễu đạt Thiền Pháp nhưng xem giáo Lư Thiền Tịnh là phương thức truyền đạo mang tính phổ cập và nhất quán. Đặc biệt trong thiền môn quy củ của Phật Giáo Việt Nam và Trung Hoa trước đây Thiền Tịnh mang tính hài ḥa. Cụ thể là lấy việc thực tập Niệm Phật Tam Muội làm cầu nối hai pháp Thiền Tịnh song tu, trải nghiệm quá tŕnh tu tập để đạt đến sự chứng ngộ. Cho đến thời cận đại, Hư Vân Thiền sư cũng khai thị đặc điểm của Thiền Giáo và khuyến tu Tịnh độ. Ḥa Thượng Tuyên Hóa, giảng giải giáo lư Thiền Tông Đại Thừa nhưng vẫn nỗ lực hoằng dương Tịnh độ. Những nỗ lực của ngài thiết lập chế độ thiền môn theo truyền thống tổ sư. Pháp sư Thánh Nghiêm một cao tăng hiện đại trước mọi quan niệm về Thiền Tịnh song tu đă trực tiếp phân tích và khẳng định đây là do sự vận dụng khéo léo các đời tổ sư mà tạo thành phương pháp tu tập phù hợp với tinh thần Phật giáo Đại Thừa. V́ ngài quan niệm dù các pháp môn nào cũng quy về Tịnh Độ, như quan niệm gồm: Duy tâm Tịnh Độ, Thiên Quốc Tịnh Độ, Tây Phương Tịnh Độ, Nhân Gian Tịnh Độ. 

Đại sư Tinh Vân vị danh tăng đương đại chủ trương tu hành với lư tưởng Nhân Gian Phật Giáo, ông xem Thiền là cũng nhân tâm mà tu, thiền đi vào trong mọi lĩnh vực đời sống sinh hoạt, nghệ thuật, điều phục nhân tâm, hướng đến chứng ngộ. Đại sư quan niệm Thiền Tịnh song tu không có ǵ chướng ngại, đều phù hợp với thực tiễn tu học của Phật giáo, phù hợp với tư tưởng “Nhân gian Phật Giáo”. Đại sư hoàn toàn phê b́nh quan niệm người tu Tịnh Độ chủ trương yếm thế, lánh xa hiện thực, hay chủ trương tu tập mang tính cực đoan. Điều đó phù hợp quan niệm Kinh luận, trong kinh A Di Đà dạy: “Không thể có ít thiện căn phước đức mà được sanh Tây phương Cực Lạc”. Hay trong kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy tu các phước lành để sanh Tịnh Độ như: Hiếu thuận cha mẹ, với sư trưởng; Phát Bồ đề tâm, đọc tụng kinh điển đại thừa, khuyến hóa người tu hành v.v…

Điều chúng ta cần lưu ư, Tịnh hay Thiền cũng đều hướng đến nhân tâm mà thiết lập phương tiện tu tập. Sau cùng sự lợi ḿnh, lợi người, giải thoát sanh tử. Thiền tịnh vốn không hai, phù hợp với mục đích giác ngộ giải thoát, là tương ưng với đạo lư trung đạo Phật giáo. Niệm Phật xem như là phương pháp, Tịnh độ là cảnh giới cứu cánh sự tu học của Thiền và Tịnh. Phạm trù Tịnh Độ được hiểu đầy đủ theo kinh luận rất rộng răi, bao trùm nhiều phương diện của kết quả sự tu tập. V́ lư do đó, Thiền Tịnh song tu là quan niệm tu tập thực tiễn, phát huy tính nhất quán của giáo lư Phật Giáo, dung ḥa tư tưởng của mọi người tu theo Phật Giáo.

4.     Kết luận: Thiền Tịnh song tu rất phù hợp với căn cơ của chúng sanh trong thời hiện đại.

Từ ư nghĩa niệm Phật và tham Thiền đưa đến hợp nhất Thiền Tịnh song tu. Hầu như các tổ sư thiết lập tông chỉ hành tŕ đều có phương pháp riêng, ví dụ trong một tông môn không thể hôm nay dạy niệm Phật, mai dạy tham thiền hay khán thoại đầu. V́ thực hành như thế khó đắc thiền định hay nhất tâm, như một thân mà đi hai thuyền qua sông rất khó. Nhưng từ đời Tống trở về sau quan niệm Thiền Tịnh song tu được kết hợp qua ư nghĩa niệm Phật căn bản có ba điểm chính: Một là ngồi thiền mà chuyên niệm Phật, giúp tâm an định. Hai là dùng câu niệm Phật để khán thoại đầu. Ba là dung hợp Thiền Tịnh, tức là tu thiền mà nguyện sanh cơi Tịnh Độ, ở đây nhấn mạnh mục đích hồi quy Tịnh Độ. Cho nên Thiền Tịnh song tu là đứng về Tâm mà luận, đứng về mục đích sự tu hành giải thoát sanh tử mà luận. Đứng về thái độ của người học Phật luôn lấy lời dạy của Phật mà suy luận, niệm Phật Thiền là phương pháp phổ biến được Phật dạy trong Kinh Nguyên Thủy, kinh tạng Nikaya, kinh A Hàm. Đặc biệt  trong kinh Đại thừa Đức Phật dạy pháp niệm Phật  rất có hệ thống, cụ thể nhất là kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm và các kinh luận Đại Thừa nói chung. Do vậy, trong thời đại ngày nay, Thiền Tịnh là hai pháp môn khá phổ biến trong các quốc gia Phật Giáo đại thừa mang tinh thần nhập thế. Thiền Tịnh song tu không có ǵ tương phản, ngược lại giúp cho vấn đề thực tiễn hóa của tinh thần giải thoát của đạo Phật đối với mọi căn cơ./.

                                                                                    

                                                                                     

                                                                                    

 


 

[1] Tùy (581-618), Đường (618-907).

[2] Kinh trung A Hàm-  Bài Kinh Tŕ Trai số 202, Hán Dịch: Phật Đà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ.

[3] Kinh Tăng Chi Bộ , Tập I , Chương 1 , Phẩm Một pháp-Niệm Phật.

[4] Kinh Tạp A Hàm số 980, Việt dịch: Thích Đức Thắng, Tuệ Sĩ chú giải.

[5] Pháp sư Diễn Bồi, “Luận Sử Tông Tịnh Độ”, việt dịch: Thích Huệ Chí.

[6] ĐCTT ĐT kinh: Vol. 47, No. 1962; Đại Sư Trí Di soạn “ Ngũ phương tiện niệm Phật môn”,  Thích Đức Trí dịch từ bản Hán Sang Việt ngữ.

[7] Dương Phú Học, Vương Thư Khánh “Đông Sơn Pháp Môn Cập Kỳ Đối Đôn Hoàng Thiền Tu Đích Ảnh Hưởng”, dịch từ bản Hán.

[8] Đại Chánh Tạng,“ Vạn Thiện Đồng Quy”, q thượng, tr. 963, dịch từ bản Hán.

[9] Kinh Quán Vô Lượng Thọ, HT. Thích Trí Tịnh dịch.

[10] Trí Giả đại sư, “Ngũ  phương tiện niệm Phật Tam Muội Môn”, Việt dịch: Tỳ kheo Thích Đức Trí.

 [11] Liên Tông Lục Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ Đại Sư, HT. Thích Thiền Tâm dịch.

[12] Thích Thanh Kiểm (dịch), Sdd, tr.50

[13] Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Trần Thái Tông, NXB Văn hoá Thông tin , 1996, trang 224

[14] Viện Văn học,Thơ văn Lư Trần tập II, NhàXuất bản Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1989, trang  81 – 82

[15] Kinh Tương Ưng 56.31, B́nh Anson lược dich.

[16] Trích từ “Tịnh Độ Tùng Thư”, Thiền Sư Duy Tắc Trả Lời Hành Giả Tịnh Độ, Thích Đồng Ngộ dịch.