Đôi Mắt Nh́n Cuộc Đời

 Tỳ Kheo Thích Đức Trí

 

                      

        Đức Phật, Đấng đạo sư tôn quư của nhân loại. Ngài đă đến và đi ngang qua ḍng đời sanh diệt, hơn 2550 trôi qua, thời gian có thể xóa nḥa đi tất cả, nhưng kỳ diệu thay h́nh ảnh Đức Phật in đậm trên mặt đất này, pháp âm giải thoát vẫn c̣n vang măi trong trái tim nhân loại và chúng sanh. Thế giới hôm nay có lắm thương đau, c̣n quay cuồng trong sân hận và tham lam. Chiến tranh c̣n gieo rắc, nhân t́nh c̣n chịu khổ v́ hoạn nạn tai trời, ách nước. Những cảnh tượng sống động đó đầy đủ chứng minh hùng hồn cho giáo lư cao thượng của Đức Phật -Thế gian vô thường, vô ngă, khổ, không. Ngài tuyên bố: “Ta ra đời chỉ nói khổ và phương pháp diệt khổ”. Ngài đă cho nhân loại ánh sáng đạo lư mà tự thân đă giác ngộ, đó là con mắt tuệ giác liểu tri đời sống con người và vạn vật. Trong cuộc đời đầy cạm bẩy bởi thế lực vô minh và nghiệp chướng, chúng ta cần có con mắt tuệ giác của Phật soi đường, hăy vận dụng tầm nh́n ấy để t́m về cội nguồn hạnh phúc vĩnh hằng.

 

           Đức Phật từ bảy bước trên hoa sen và hiện thân làm thái tử đầy đủ cảnh vinh hoa phú quư như vợ đẹp, con thơ, cung vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ của một đời sống dục lạc trần gian. Đôi mắt Thái tử vẫn hững hờ trước đời sống mà thế gian thường hưởng thụ. Thực chất đời sống của Ngài là phú quư trên mọi phú quư, là quyền lực trên mọi quyền lực, v́ Ngài ở đời sẽ thừa kế ngôi vị đế vương mà vua Tinh Phạn hằng mơ ước. Đôi mắt ấy, Ngài đă nh́n thấu bản chất của đời sống con người, đó là cảnh sanh già, bệnh, chết, những dục lạc thúc dục mạng sống mong mênh, vô thường giả tạm của con người. Từ đó Ngài liên tưởng đến cả nỗi đau nhân thế, mọi kiếp người đang quay cuồng trên sân khấu của cuộc đời ngắn ngủi. Ôi trái tim vị tha của Bồ Tát, Ngài giáng sanh ở trần gian với đôi mắt từ bi vô hạn,  từ bỏ tất cả sở hữu hạnh phúc để t́m đường xuất gia, cầu giác ngộ chân lư.

 

          Từ đỉnh cao của sự giải thoát giác ngộ Ngài đă dập tắt mọi thế lực vô minh ngự trị trong tâm ḿnh, khẳng định rằng tất cả chúng sanh đều có đầy đủ Phật chất trong ḷng, có khả năng thoát khổ thông qua con đường đoạn trừ tham ái, chứng đắc tuệ giác vô ngă. Giáo lư đức Phật là mục đích chuyển hóa tâm ô nhiểm thành tâm trong sạch. Nó như một phương thuốc nhiệm mầu trị liệu căn bệnh trầm kha tham, sân, si để hướng tới hạnh phúc chân thật Niết bàn. Niết bàn không phải là cảnh giới hư vô mà là thực trạng vắng mặt mọi khổ đau “Ái diệt tức niết bàn”. Chỉ cần dập tắt ngọn lửa tham ái th́ cảnh giới niết bàn hiện hữu.

 

          Đức Phật dạy rằng: Mọi người đối trước chân lư đều b́nh đẳng, không có giai cấp trong con người, khi mồ hôi cùng mặn, ḍng máu cùng đỏ. Đó là ư thức hệ vô cùng nhân bản, đánh tan mọi quan niệm sai lầm của xă hội Ấn Độ đương thời, v́ xă hội ấy đă phân thành bốn giai cấp: 1- Bà-La-Môn tự cho ḿnh là giai cấp tôn quư, nắm mọi pháp quyền, 2- Giai cấp Sát-Đế-Lợi là giữ truyền thống của ḍng vua chúa, nắm quyền lănh đạo. 3- Giai cấp Phệ-Xá thuộc những hạng người thương dân giàu có, 4- Giai cấp Thủ-Đà-La là thứ dân hạ tiện nhất xă hội. Đức Phật đă đem ánh sáng b́nh đẳng soi rọi vào ḷng xă hội, hoàn toàn không phân biệt giai cấp hay sắc tộc, mọi người biết tu tập, mọi người biết hướng thiện th́ đều được an lạc.

 

          Giáo lư Đức Phật nhằm thuyết minh hai phương diện hạnh phúc tương đối và hạnh phúc tuyệt đối. Người học Phật phải có con mắt tuệ giác mới đầy đủ năng lực hộ tŕ chánh pháp, lấy Giới-Định-Huệ làm phương châm tu học, thông qua tu học phước tuệ để xây dựng hạnh phúc cho ḿnh và tha nhân. Con người phải dũng mănh bỏ đi cái khối ung nhọt của kiến chấp sai lầm, không nên mê muội bám chặt vào chủ nghĩa h́nh thức tiêu cực, không nên v́ thành kiến và tham vọng làm mất đi giá trị t́nh thương trong cộng đồng nhân loại. Người học Phật sống và làm việc với ḷng chân thật, không nên mượn h́nh thức tôn giáo nuôi lớn quyền lực cá nhân hay sống theo thủ đoạn thế tục. Sống với đạo là trở về với chân lư, sống bằng t́nh thương và hiểu biết. Theo Phật mà không hiểu lời Phật dạy, không làm theo lời Phật dạy cũng là một h́nh thức hủy báng Phật Pháp ở đời.

 

          Chúng ta hăy mở mắt nh́n vào ḍng lịch sử Phật Giáo từ thuở xa xưa cho đến ngày nay. Phật giáo từ Ấn Độ đến Trung Hoa, đến Việt Nam và tồn tại khắp năm châu bốn bể, nó luôn là kim chỉ nam soi sáng cho con người thoát khỏi khổ đau và thù hận.  Trong băo tố cuộc đời như chiến tranh và bạo lực, đạo lư ấy vẫn tồn tại v́ dân tộc nào cũng yêu chuộng và ǵn giữ. Thế sự có thăng trầm đạo ấy vẫn an nhiên bất động, năng lực của pháp siêu việt lên tất cả mọi triết lư và chủ thuyết.

 

          Hôm nay chúng ta được biết Phật pháp đó là một cơ hội hiếm có trong đời. Nhờ ân Đức Phật, chư Thánh đệ tử của Phật, lịch đại Tổ sư, chư vị Phật tử hộ tŕ chánh Pháp đă không tiếc thân mạng truyền bá chánh pháp. Chúng ta là người thừa kế phải biết vận dụng Phật pháp tu học để gột rửa mọi nội kết ngă chấp trong ḷng, đem đạo lư t́nh thương vào đời sống nhân loại. Đó là chánh kiến như Đức Phật đă nh́n cuộc đời. Ở trong kinh Kim Cang có dạy: “Các pháp ở thế gian đều là như giấc mộng, là huyễn hóa, như bọt nước, như giọt sương, như điện chớp, phải thường quán sát như vậy”. Cuộc đời có ǵ là thật, kiếp người bao giờ cũng bị trói buộc trong dục vọng điên cuồng, sự chấp ngă đă gán vào tâm con người những vết dơ của thù hận và ḷng ích kỷ, từ đó tâm ta xu hướng vào ṿng ô nhiễm, kết thành hạt giống phiền muộn và vô minh.

 

          Đức Phật đă cho ta con mắt tuệ giác để quán chiếu tường tận mối quan hệ duyên sinh các sự kiện cấu thành thân tâm và thế giới, bỏ đi những nhận thức sai lầm trước mọi hoàn cảnh trước ḍng đời luôn luôn vận chuyển trong từng Sát-na. Đôi mắt tỉnh thức thấy rơ tính chất vô ngă của hiện tượng giới. Ngài dạy: “quá khứ không truy t́m, tương lai không ước vọng, tuệ quán chính ở đây…”. Do vậy tu học là biết quán sát, không nên đào bới những mặc cảm thù hận trong đáy ḷng mà mất đi t́nh thương tươi mát vốn có. Không tham vọng về tương lai mang tính chất ảo huyền phi thực tế. Hăy an trú trong hiện tại, làm nhiều điều tốt đẹp lợi ích, phát huy được năng lực tuệ giác vốn có trong ḷng ḿnh và có khả năng giác ngộ như Phật. Lại nữa, ở trong kinh Pháp hoa có dạy: “Đức Phật ra đời v́ một đại sự nhân duyên khai thị chúng sanh ngộ, nhập Phật tri kiến”. Chúng ta hiểu rằng mục đích Phật xuất thế để thức tỉnh chúng sanh thoát khỏi căn nhà lửa tam giới. Khai tức là mở ra tri kiến Phật, Thị là chỉ cho thấy tri kiến ấy, Ngộ là làm cho thấy rỏ, Nhập là vào tuệ giác của Phật. Đức Phật là bậc thầy gương mẫu, đă cho nhân loại một tầm nh́n siêu xuất, nh́n rỏ bản chất hư giả của cuộc đời, từ đó mới có thái độ sống cao đẹp.

 

Là Phật tử chúng ta phải có chánh tín rằng một khi mây mờ phiền năo trong ḷng đă xua tan th́ bầu trời tự tánh giác ngộ được xuất hiện. Đến lúc đó nh́n lại trần gian nhẹ như tơ hồng, bao nhiêu buồn giận hơn thua trong đời đều là sự dại dột ngây ngô. Chúng ta sẽ im lặng quỳ dưới chân đức Phật nở một nụ cười thầm kín trên môi với ḷng tri ân, rồi tự ḿnh nói rằng: Kính lạy Phật cho con có mắt nh́n cuộc đời như thật, cho con có cơ duyên thực hiện đạo lư t́nh thương vô ngă. Thế gian này thật đáng thương, con không có ḷng thù hận mà muốn cùng bắt tay mọi người với t́nh thắm thiết. Trong kiếp người ngắn ngũi này con nguyện thương nhau hơn và cùng phụng sự cho lợi ích nhân loại, có vậy đến lúc nhắm mắt xuôi tay ĺa trần không c̣n sầu khổ và hối hận một đời đă qua sống trong vô nghĩa. Cho con có đôi mắt của Phật để phát huy nguồn yêu thương nội tại trong chính ḿnh và có được hạnh phúc chân thật.

 

                                                                                   Chùa Tam Bảo, mùa Phật Đản 2550