Vầng Trăng không thể bị lấy trộm

 

Đại Phương dịch từ Những Câu chuyện Thiền của John Suler

 

 

Một Thiền Sư[1] sống giản dị trong một am cỏ nhỏ dưới chân núi. Một đêm nọ, khi ngài ra ngoài, một tên trộm lẻn vào am trộm đồ nhưng không tìm thấy gì cả. Thiền Sư bất chợt quay về  bắt gặp kẻ trộm. Ngài bảo với tên rình mò trộm cắp: “Anh từ xa đến thăm ta, không lẽ ra về tay không. Xin nhận y phục của ta để làm quà. Kẻ trộm bối rối cuộn lấy bộ y phục rồi rời khỏi am. Thiền Sư không một mảnh vải che thân ngồi ngắm vầng trăng. Ngài đăm đăm nhủ thầm: “Anh bạn khốn khổ ! Ước gì ta có thể tặng anh vầng trăng tuyệt đẹp này.”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Những lời bàn:

 

“Trước hết hãy cảm ơn mọi người: Có lẽ bởi vì Thiền Sư bị bức bách trước những sở hữu thuộc vật chất, ngài không hề chú ý đến cái đẹp (hình sắc) chung quanh mình. Thật sự, tên trộm đã khiến cho Thiền Sư quán sát vầng trăng mà có lẽ ngài quên lãng nhờ vụ trộm của y. Cũng vậy, đối với tất cả chúng ta, cái đẹp của thiên nhiên có thể có – Sự Giải Thoát và Vĩnh Hằng – và chúng ta quên lãng cái đẹp của thiên nhiên khi chúng ta ̣miệt mài đuổi theo cái hào nhoáng của vật chất trong cuộc đời.”

“Thiền Sư không ái luyến sở hữu nào. Thậm chí ngài có thể đem cho y phục đang mặc của mình mà không hề suy nghĩ lại. Nhưng cái mà Thiền Sư muốn cho kẻ trộm không phải là tài sản mà là Cái Bản Lai hay sự Chứng Ngộ.”

“Kẻ trộm khốn khổ kia vì không nhận thức được cái gì là giá trị của cuộc sống và cái gì là không phải. Thiền Sư là kẻ giàu bởi vì ngài hài lòng những gì mình có. Tôi nghĩ vầng trăng là một biểu tượng của cái tâm biết đủ và an tịnh đó.”

 “Câu chuyện này làm tôi nhớ đến vị giám mục trong “Những kẻ khốn cùng” (Les Miserables) kể lại câu chuyện tên trộm đã tặng ngài những mà y lấy trộm được, điều này có nghĩa rằng lúc bấy giờ tên trộm đó thuộc về Chúa. Y phục chỉ là vật vô tri, chúng không có nghĩa gì đối vị Thiền Sư, vì vậy ngài đã đem cho nó để làm xóa tan sự mặc cảm của tên trộm. Tôi nghĩ ánh trăng tiêu biểu cho mối liên quan nội tâm của vị Thiền Sư, cái mà ngài không thể đánh mất; cái đó cũng dành cho tất cả những ai đi tìm nó. Thiền Sư cho thấy rằng chỉ có cái gì thuộc về tâm linh là ngài không thể đem ra cho như vị giám mục đã làm trong “Những kẻ khốn cùng”. Trong Do thái giáo, có cả cái ác và cả cái thiện thôi thúc trong mọi người, và khi muốn chế ngự cái ác đang thôi thúc này đòi hỏi người ta tích cực tham gia tìm kiếm, qua cầu nguyện và nghiên cứu, như vậy cái dị biết của chúng mới hiển lộ. Thiền Sư hành hoạt bằng lòng từ bi, nó cũng là yếu tố của mọi tôn giáo lớn (bất hạnh thay, điều đó không phải luôn luôn được thực hành).”

“Vật chất nghĩa là không có gì... còn trí tuệ thì không thể bị lấy trộm cũng không thể dễ dàng đem biếu tặng.”

“Đây là một câu chuyện đẹp. Theo cách hiểu của tôi như vầy: (1)  Có lẽ Thiền Sư muốn tặng vầng trăng cho kẻ trộm vì nếu y có được vầng trăng, thì y có thể sử dụng nó khi y hành sự vào ban đêm. Vì thế, câu chuyện này ngụ ý rằng chúng ta nên cố gắng ̣để bố thí cho người vật gì sau suy tư vật đó có thể có ích cho họ, vả lại không chỉ có mục đích bố thí, ngoại trừ (như trong trường hợp này) chúng ta không còn có một sự chọn lựa hay một cơ hội nào khác.(2)  Cách hiểu thứ hai có thể là khi bạn cho, bạn nên cho với tất cả tấm lòng của bạn, tốt nhất là cho cái gì bạn có thể cho. Vầng trăng trong trường hợp này (3) có lẽ Thiền Sư đang nói về sự chứng ngộ của kẻ trộm, và sự cho những ý nghĩa của vầng trăng là sự mang ánh sáng vào những đêm tối của y... có lẽ là điều bạn chọn lựa.”

“Vị Thiền Sư cho kẻ trộm cái ngài có thể cho bằng vật chất. Duy có cái ngài không thể đem cho kẻ trộm đó là cái mà ngài cần, đó là cái sở hữu của ngài là thực tánh.Vầng trăng tiêu biểu cho thực tánh là sở hữu của chúng ta. Cung cách của Thiền Sư biểu lộ thái độ của ngài đối với những kẻ chưa chứng ngộ: ngài không khinh thị họ, ngài cũng không ghét bỏ những kẻ thù; ngài vượt qua sự thù hận do tham ái và chủ nghĩa vật chất đem lại. Cung cách đó cũng là một ví dụ về cái thực tánh này.”

“Vật chất chỉ là cái đẹp phù du, sự hiểu rõ bàn chất chúng thì vĩnh hằng.”

“Thiền Sư và kẻ trộm cùng đi dưới vầng trăng nhưng kẻ trộm không thể nào biết được cái an tịnh mà Thiền Sư giữ trong lòng. Vì vậy, trong thực tế những vầng trăng của họ thì khác nhau. Ngài chỉ bố thí cho kẻ khốn khổ.”

“Tôi xem câu chuyện này theo cách này,  Thiền Sư biết rằng có kẻ trộm đột nhập vào am mình để lấy trộm một vật gì đó, Thiền Sư đã ngộ đạo không những tha thứ kẻ trộm về chuyện đột nhập và xâm phạm nơi chốn riêng tư của ngài  mà còn có một cung cách cao thượng là cho y y phục của mình. Hệt như cái cảm giác hài lòng mà vị Thiền Sư có được từ vầng trăng, cũng vậy không có thứ gì sánh với cảm giác hài lòng đầy cảm động bằng nghĩa cử đầy lòng từ và tha thứ những kẻ đã làm những điều sai trái chống lại bạn.”

“Hầu như chuyện này mô tả một vị Thiền Sư thông tuệ đã biết được cái gì thật sự là quan trọng. Ở đây, vị Thiền Sư cảm thấy tiếc thương cho kẻ trộm, Đó là tấm lòng ưu lo của Thiền Sư rằng  kẻ trộm không thể nhận thức được là cái gì là vật được ban tặng một cách tự do. Điều đó khiến vị Thiền Sư đem cả y phục duy nhất của mình cho kẻ có linh hồn khốn khổ kia.”

“Đây là một câu chuyện không dành cho người có quyền lực sở hữu, nhưng dành cho người có quyền lực chiếm hữu. Một vị Thiền Sư có khả năng ban phát một cái gì đến một người mà họ không có khả năng đạt được cái như ngài có. Nếu Thiền Sư có thể lấy được mặt trăng ̣để cho thì điều đó sẽ làm tăng hơn nữa quyền lực chiếm hữu của ngài. Điều này ngụ ý có một hệ thống phân biệt đẳng cấp mà nó có khả năng chiếm hữu, nhưng nếu Thiền Sư có thể cho vầng trăng vậy thì quyền lực chiếm hữu của ngài sẽ loại bỏ bất kỳ hệ thống cấp bậc nào. Rốt cuộc quyền lực chiếm hữu là sự thoái hóa của con người bởi vì nó thích ứng với người có lòng tin sai lầm rằng có quyền lực sở hữu.”

“Thiền Sư cảm thấy tiếc cho kẻ trộm chỉ thỏa mãn với sở hữu vật chất tầm thường mà không nhận rõ cái sở hữu vô giá vốn có .... giống như vầng trăng (chân như).”

“Khi ngồi nhìn vầng trăng Thiền Sư đã ngộ ra một điều thuộc về ngài, điều mà khiến cho ngài hạnh phúc -  là khi tặng cho kẻ trộm một vật mọn mà điều đó mang lại cho NGÀI hạnh phúc. Vì vậy ngài nhủ thầm, ta muốn tặng cho y vầng trăng, nhờ làm vậy mà ta có quá nhiều hạnh phúc, chắc chắn ta càng hạnh phúc hơn khi ta tặng nó cho một người khao khát sở hữu tài sản người khác.”

“Vị Thiền Sư không một mảnh vải che thân ngồi thưởng thức cuộc đời dưới ánh trăng; ngài không quan tâm đến ngày mai khi mặt trời có thể thiêu cháy da ngài hay người ta có thế bị sửng sốt khi nhìn thấy tình trạng của ngài. Phải chăng ngài không để tâm về ngã vì ngài vô ngã. Dường như ngài có quan tâm đến cái ngã của kẻ trộm. Phải chăng ngài “vượt lên trên” kẻ trộm vì hành vi cao thượng của ngài ? Vì sao ngài lại thừa nhận rằng kẻ trộm không thể nào thưởng thức vầng trăng kia ? Có phải thiền của ngài là loại thiền ứng xử đúng ̣mực hay thật sự là vô tâm ?”

“Thiền Sư không có cái gì tuy nhiên không cái gì mà ngài không có”.

 

“Thiền Sư đã tìm thấy một cách sống làm ngài hài lòng, đó là cuộc sống đơn giản nhưng hạnh phúc. Nhiều người vẫn đang tìm kiếm nó. Thiền sư ước muốn ngài có thể dấn bước trên con đường chứng ngộ, con đường mà ngài đã tìm ra cho tha nhân. Trong một lời ghi chú cá nhân  – Tôi ghen tỵ với thiền sư nhưng tôi vẫn nỗ lực đi tìm con đường của cuộc đời tôi.”

 


 

[1] Thiền Sư Ryokan (̣Lương Khoan: 1758 – 1831)