Thiền Sư và vận nước

 

Như Minh

 

 

 

 

 

Xưa nay, những bậc xuất trần thượng sĩ là những Đại Sư có tâm hồn nghệ sĩ. Cho nên, sự có mặt của những vị ấy đều để lại dấu ấn của mình để làm thăng hóa và làm đẹp cho đời hoặc bằng hành trạng siêu xuất tự tại của mình hoặc bằng những áng thơ văn chuyển tải tư tưởng xuất trần thượng sĩ có quyền lực chuyển hóa con người hướng về chân trời cao rộng hoặc những vần thơ hộ quốc an dân góp phần giữ vững nền tự chủ cho quốc gia. Trong dòng lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam, chúng ta có rất nhiều vị Thiền Sư thi sĩ như vậy. Tiêu biểu trong số đó, vào triều đại vua Lê Đại Hành (980-1005) có ba vị Thiền Sư Khuông Việt, Vạn Hạnh và Pháp Thuận đã để lại những bài thơ về sau trở thành dòng thơ chủ lưu của văn học Việt Nam vì dòng văn học chủ lưu này đã có những cống hiến xuất sắc cho việc giành chủ quyền độc lập và hòa bình cho Đất Nước thời bấy giờ, đóng góp cho sự hình thành hai triều đại Phật giáo Lý và Trần hùng mạnh và phát triển về mọi mặt xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục,  văn học, mỹ thuật, kiến trúc, quân sự... và có ảnh hưởng sâu rộng trong suốt dòng lịch sử dân tộc cho đến ngày nay.

 

Thiền Sư Khuông Việt (933-1011) trước tên là Chân Lưu, một bậc tài cao đức trọng và được xem như là một nhà ngoại giao xuất sắc trong lịch sử bang giao của Việt Nam. Thiền Sư được vua Lê Đại Hành suy tôn làm Quốc Sư. Khuông Việt là tên do vua phong tặng có nghĩa là khuông phò nước Việt. Trong văn học Việt Nam, Thiền Sư còn để lại một bài Từ Ngọc lang qui nổi tiếng có quan hệ đến mối giao hảo với triều đình nhà Tống Trung Hoa:

            Tường quang phong hảo cẩm phàm trương

            Diêu vọng thần tiên phục đế vương

            Vạn trùng sơn thủy thiệp thương lương

            Cửu thiên quy lộ trường

            Tình thảm thiết đối ly trường

            Phan luyến sứ tinh lang

            Nguyện tương thâm ý vị Nam Cường

            Phân minh tấu ngã hoàng.

               

Thiền Sư Mật Thể dịch:

 

Gió ḥa phấp phới chiếc buồm hoa

Thần tiên trở lại nhà

Đường muôn ngh́n dặm trải phong ba

Cửa trời nhắm đường xa

Một chén quan hà dạ thiết tha

Thương nhớ biệt bao là

Nỗi niềm xin nhớ cơi Nam Hà

Bày tỏ với vua ta.

 

Đây là bài Từ xưa nhất hiện còn không những trong văn học nước ta mà còn trong văn học Trung Hoa được sáng tác khi Ngài phụng chỉ vua Lê Đại Hành viết để tiễn sứ thần nhà Tống là Lý Giác về nước vào năm Thiên Phúc thứ 7 (986). Và do những vần thơ xuất chúng chứa đựng những lời lẽ chuẩn mực đầy tính ngoại giao gửi gắm sứ thần về tấu lại với vua Nhà Tống đã làm “đẹp lòng” triều đình Trung Hoa. Nó đã ghi lại một dấu son trong lịch sử ngoại giao của nước ta.

 

Thiền Sư Pháp Thuận (925-990) cũng là một thi sĩ, một nhà ngoại giao tài ba. Vào năm Thiên Phúc thứ 7 (986), nhà Tống sai sứ là Lư Giác sang nước ta, vua Lê Đại Hành sai ngài cải trang làm người chèo đ̣ đi đón. Lý Giác rất giỏi văn chương. Lúc bấy giờ, có hai con ngỗng đang bơi trên dòng nước, Lư Giác liền ngâm hai câu thơ:

 

Nga nga lưỡng nga nga

Ngưỡng diện hướng thiên nha.

 

Song song ngỗng một đôi

Ngoảnh mặt ngó ven trời

 

Pháp Sư đang lúc cầm chèo, cũng tiếp vần đọc:

 

 Bạch mao phô lục thủy

 Hồng trạo bải thanh ba.

 

 Lông trắng phơi dòng biếc

 Sóng xanh chân hồng bơi.

 

Sứ giá nể phục tài ứng đối thơ văn của người “chèo đò” nước Việt. Khi về đến sứ quán, Lý Giác làm một bài thơ gửi tặng Pháp Sư:

 

Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du

Nhất thâu lưỡng độ sứ Giao Châu

Đông đô tái biệt tâm vưu luyến

Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu

Mă đạp yên vân xuyên lăng thạch

Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.

 

 

Thiền Sư Mật Thể dịch:

 

May gặp minh quân giúp việc làm

Một ḿnh hai lượt sứ miền Nam.

Mấy phen qua lại ḷng thêm nhớ

Muôn dặm non sông mắt chữa nhàm

Ngựa đạp mây bay qua suối đá

Xe ṿng núi chạy tới gịng lam

Ngoài trời lại có trời soi rạng

Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

 

Bài thơ này ngụ ý tôn trọng vua Lê như vua nhà Tống. Thật là điều hiếm thấy xảy ra trong lịch sử ngoại giao của nước ta với Trung Hoa: Một nhà sư đã làm vẻ vang cho nước Việt.

Do có tài đức, vua Lê Hoàn rất trọng vọng Thiền Sư nên thường đem vận nước dài ngắn ra hỏi. Ngài liền đọc bài kệ rằng:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lư thái b́nh

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh.

 

Thiền Sư Mật Thể dịch:

 

Ngôi nước như dây quấn

Trời Nam mở thái b́nh

Trên điện không sanh sự

Đâu đó dứt đao binh.

 

Bài thơ tỏa sáng một thái độ chính trị sắc bén của Thiền Sư Pháp Thuận trong giai đoạn đất nước đang rối ren thời bấy giờ: bên ngoài giặc ngoại xâm phương Bắc lúc nào cũng lăm le xâm lược nước Đại Cồ Việt; bên trong những bè nhóm triều đình như Đinh Điền, Nguyễn Bặc vì quyền lợi riêng cho dòng họ đã dấy loạn. Trước tình thế Đất nước có thể rơi vào lại tay kẻ thù sau một thời gian ngắn ngủi giành được độc lập. Lê Hoàn phải thấy được tài trí Thiền Sư Pháp Thuận, một “báu vật” của triều đình, một con người mà Lê Hoàn tuyệt đối tin cậy để tham mưu cho triều chính trong việc trị nước an dân. Quả thật, cho đến ngày nay bài thơ của Thiền Sư Pháp Thuận vẫn còn mang tính thời sự.

Quốc tộ như đằng lạc. “Đằng lạc” nghĩa là cuộn mây mang hình ảnh sự đoàn kết của toàn dân dưới sự bảo hộ của nhà vua cai trị đất nước với đức tính vô vi. Vô vi tức là mẫu người lý tưởng để trị dân vừa có trí vừa có đức, là tinh thần vô ngã của Đạo Phật. Nếu nhà vua cai trị đất nước bằng  “vô vi cư điện các” chăm lo hạnh phúc của dân, thì đất nước được thái bình dài lâu.  Tinh thần đoàn kết của toàn dân là sức mạnh giữ gìn độc lập cho đất nước mãi mãi trường tồn.

 

Thiền Sư Vạn Hạnh (? – 1025) vị Thiền Sư có công lớn lập ra triều đại Phật Giáo nhà Lý thịnh trị vàng son. Triều Lý tồn tại được 215 năm (1010-1225) rồi chuyển giao qua nhà Trần là thời cực thịnh của Đất Nước và Phật giáo Việt Nam với những vị vua lưu danh sáng ngời công trạng hiển hách ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông và không những giữ gìn bờ cõi biên cương phía Bắc mà còn giao hảo mở rộng biên cương phía Nam. Vua Trần Thái Tôn và Trần Nhân Tôn không những là hai vị Vua với những công trạng hiển hách cho Đất Nước mà còn là hai vị Phật tử vĩ đại của Phật giáo Việt Nam xem ngai vàng “như đôi dép rách” đã khai sáng một dòng Thiền đặc sắc Việt Nam là Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn. Như vậy hai triều đại Lý Trần này đã thấm nhuần tư tưởng của Thiền Sư Vạn Hạnh và nó đã ảnh hưởng sâu đậm suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và Phật giáo Việt Nam.

Theo sách Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát nghiên cứu, dịch và chú giải (SaiGon: 1999) thì, Thiền sư Vạn Hạnh ở “Chùa Lục tổ, làng Dịch bảng, phủ Thiên đức. Người Cổ pháp, họ Nguyễn. Gia đ́nh đời đời thờ Phật. Thuở nhỏ Sư đă khác thường, gồm thông ba học nghiên cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 21 tuổi xuất gia, cùng với Định Huệ thờ Thiền Ông chùa Lục tổ làm thầy. Ngoài lúc hầu hạ, Sư học tập quên cả mệt mỏi.

Sau khi Thiền Ông viên tịch, Sư chuyên tập pháp môn Tổng Tŕ Tam Ma Địa, lấy đó làm việc riêng ḿnh. Bấy giờ Sư nói ra lời nào thiên hạ đều cho là phù sấm. Hoàng đế Lê Đại Hành hết ḷng tôn kính Sư.

Năm Thiên Phúc thứ 1 (980) tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang cướp nước ta, đóng quân tại Cương giáp, Lăng sơn. Vua mời Sư đến, đem chuyện thắng bại ra hỏi, Sư đáp:

"Trong ṿng 3, 7 ngày giặc phải lui". Sau quả nhiên như thế.

Đến khi vua muốn đánh Chiêm thành, việc bàn định chưa dứt khoát, Sư tâu: "Xin mau cất binh, nếu không, ắt mất cơ hội". Sau đánh quả nhiên thắng trận.

Thường có kẻ gian là Đỗ Ngân, muốn mưu hại Sư. Khi việc chưa phát, Sư biết trước, đưa cho y một bài thơ:

"Cây đất sinh nhau bạc với vàng

Cớ sao thù địch măi cưu mang

Bấy giờ năm miệng hồn thu dứt

Thật đến về sau chẳng hận ḷng".

Ngân sợ liền thôi. Ấy, tài tiên tri văng giám của Sư đại loại như thế.

Bấy giờ Ngọa Triều bạo ngược, trời người oán ghét. Lư Thái Tổ khi ấy giữ chức Thân vệ, chưa lên ngôi. Trong khoảng thời gian này, những điều tốt xấu đều xuất hiện lẫn lộn nhau. Như viện Hàm toại chùa Ứng thiên tâm, châu Cổ pháp, có con chó trắng, lông trên lưng kết thành chữ "Thiên tử". Sét đánh vào cây bông gạo để lại dấu chữ. Ngôi mộ Hiển Khánh đại vương, bốn bề đêm nghe có tiếng đọc tụng. Cây đa chùa Song Lâm sâu ăn vỏ, thành nét chữ "Quốc". Ấy đại khái những việc mà tùy theo chỗ tai nghe mắt thấy Sư đă xét bàn th́ mỗi mỗi phù hợp với điềm Lê diệt, Lư hưng. V́ vậy, ngày Lư Thái Tổ lên ngôi, Sư ở tại chùa Lục tổ đă biết trước, bảo với người bác và người chú của vua rằng:

"Thiên tử đă băng, Lư Thân Vệ hiện đang ở nhà, tay chân họ Lư túc trực trong thành lên tới số ngàn. Trong trưa này, Thân Vệ ắt được lên ngôi". Rồi yết bảng ở đường cái nói rằng:

"Tật Lê ch́m bể Bắc

Hạt Lư mọc trời Nam(12)

Bốn phương gươm giáo dẹp

Tám cơi mừng b́nh an".

Hai vương nghe nói rất sợ sai người đi hỏi tin tức, quả đúng như lời Sư nói.

Đến ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), Sư không bệnh, nói kệ bài:

"Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cỏ xuân tươi thu héo hon

Tùy vận thịnh suy không hăi sợ

Thịnh suy đầu cỏ có phơi sương".

Rồi Sư dạy đệ tử rằng: "Các con muốn đi đâu? Thầy không lấy chỗ trụ để trụ, không nương vào chỗ không trụ để trụ".

Nói xong giây lát tịch. Vua và sĩ thứ làm lễ trà tỳ, lượm cốt dựng tháp để thờ. Lư Nhân Tông thường có bài kệ truy tặng rằng:

"Vạn Hạnh dung ba cơi

Thật hiệp lời sấm xưa

Quê hương tên Cổ pháp

Chống gậy trấn kinh đô" [….]

Hành trạng của Ngài được ghi như vậy.

            Bài kệ Thị Tịch:

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

Thiền Sư Thích Mật Thể dịch:

 

Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời

Sá chi suy thịnh cuộc đời

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

 

Bài thơ toát lên cái thực tại vô thường của cuộc đời như bóng chớp và cuộc thịnh suy như hạt sương phơi đầu cành lá. Cũng vậy sự thịnh suy thành bại của các triều đại đi qua trong dòng lịch sử cũng là lẽ thường. Như Mùa xuân đến trăm hoa tươi tốt, rồi mùa thu đi qua cỏ cây hoa lá khô tàn héo rụng. Xuân hạ thu đông rồi lại xuân. Chu kỳ vận hành của vũ trụ và cũng của đời người cứ thế tiếp diễn. Trước cái vô thường ấy tâm người thường giao động. Nhưng người hiểu Đạo thì lòng như hư không không sợ hãi. Trong câu thứ tư của bài thơ này Thiền Sư Vạn Hạnh đã xử dụng từ “nhậm vận” có nghĩa là “tùy vận” như lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta: Tùy vận thịnh suy chớ có sợ hãi. Đó cũng là tinh thần của người Phật tử hướng ̣đến. Từ đó, qua bài thơ này tư tưởng của Thiền Sư Vạn Hạnh đã ảnh hưởng sâu đậm đến quan điểm hành xử của các bậc thức giả trong chặng đường dài của lịch sử dân tộc từ khi bài thơ ra đời cho đến tận ngày nay.

Do công trạng gầy dựng nhà Lý, vua Lư Nhân Tông (1072-1127) đã ca ngợi Thiền Sư Vạn Hạnh bằng những vần thơ sau:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm ky

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

 

Thiền Sư Nhất Hạnh dịch:

 

Hành tung thấu triệt ba đời

Ngữ ngôn phù hợp muôn lời sấm xưa

Quê hương Cổ Pháp bây giờ

Dựng cây tích trượng, kinh đô vững bền.

 

            Hành trạng của ba vị Thiền Sư Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh được mãi mãi ghi nhớ do những cống hiến to lớn cho đất nước và dân tộc qua cương vị quốc sư khuông phò nước Việt và đã để lại trong lịch sử văn học Việt Nam và Phật giáo Việt Nam những bài thơ chuyển tải tư tưởng Phật Việt trong sứ mệnh hộ quốc an dân giữ vững nền tự chủ của Việt Nam.