Sự Tôn Kính của người học Phật

 

Thích Giới Minh

 

 

 

 

       

Tôn kính là một nghĩa cữ cao đẹp mà mỗi người cần phải có. Người học Phật muốn thăng tiến trên đường đạo càng không thể thiếu yếu tố này. Tuy nhiên, muốn được như vậy chúng ta cần phải có cách nh́n trí tuệ và hiểu đúng nghĩa của sự tôn kính. Bởi lẽ, Đức Phật đối với Phật tử quyết không phải là một vị thần siêu nhiên như các thần của tôn giáo khác mà họ mong chờ được cứu vớt. Người Phật tử không nhờ một sức mạnh thiêng liêng nào bên ngoài phù hộ mà họ phải tự nỗ lực để thành Phật. Tuy nhiên, sự tôn kính ở người Phật tử luôn được phát huy trên mọi phương diện. Sau đây chúng tôi xin gợi ư một vài vấn đề trong việc tôn kính mà người học phật cần phải có.

          Lúc đức Phật c̣n tại thế, mỗi lần Ngài thuyết pháp xong có chư thiên răi hoa, trổi nhạc để tỏ ḷng quy kính và tán dương chân lư cao siêu nhiệm mầu. Về sau các nước Phật giáo lập chùa thờ Ngài, cúng dường và đảnh lễ Ngài qua ảnh tượng. Có nơi thờ Xá lợi hay trồng một gốc cây Bồ đề để tưởng nhớ về Thế Tôn. Điều đó hết sức nhân bản, tạo nên một sắc thái văn hóa. Luật Sa Di sớ chép: “Giá biên na biên, ứng dụng bất khuyết”. Bên sự bên lư tất cả đều là phương tiện đưa người vào đạo, người học Phật hăy tùy duyên mà ứng dụng, đừng có cái nh́n cục bộ, tự tôn, cố chấp để rồi phải mất đi những giá trị cao quư của bao đời dày công xây dựng.

          Truyền thống này gợi ư sự tôn kính, bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc. Việc làm đó là điều kiện thiết yếu giúp tăng trưởng thiện pháp, tạo an b́nh cho tự thân và sự tồn vinh cho xă hội. Nó hoàn toàn không bị động và cũng không bị chi phối bởi tín điều ảo tưởng, mang tính áp đặt. Nó hoàn toàn thực tế, thực tại, không hề không tưởng hay không tính. Đạo Phật không công nhận sự hiện hữu một thượng đế tối cao, một thượng đế chủ tể, hay đấng sáng tạo có quyền năng điều khiển và chi phối cuộc đời. Đạo Phật càng không phải vô thần theo như cách hiểu của các nhà duy vật. Tất cả khái niệm duy vật hay duy tâm đều không thể áp dụng cho giáo lư Đạo Phật.

Đức Phật dạy: Không nên tôn kính Ngài bằng cách cúng dường và lễ bái một cách máy móc hay yếu hèn. Ngài khuyên các đệ tử xuất gia và tại gia của ḿnh nên tôn kính ngài bằng cách thực hành theo những điều ngài đă dạy, v́ đó là cách tôn kính cúng dường cao quư nhất. Đây là một luồng tư tưởng nhân bản và mới mẻ thổi vào xă hội Ấn lúc bấy giờ cũng như đến hôm nay.

 Ở đời có những nguyên lư hiển nhiên không cần chứng minh mà vẫn tồn tại qua thời gian và không gian. Cũng vậy, việc tôn kính đề cập ở trên có những lợi ích thiết thực mà chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được, c̣n kẻ bàng quang th́ thường đ̣i hỏi sự chứng minh v́ chưa bao giờ thực nghiệm được lợi lạc. Người Phật Tử tôn kính chư Phật, thánh tích, xá lợi hay bảo tồn chùa tháp, một thái độ tôn trọng văn hóa vật thể và phi vật thể, v́ họ thấy rơ giá trị đích thực của việc ḿnh làm và cảm nhận được lợi lạc của thiện pháp từ việc làm ấy.

V́ biết tôn kính tam bảo, biết thực thi lời Phật dạy nên bảo tồn được văn hóa vật thể và phi vật thể, do đó dân tộc Vajj́ được bền vững và lớn mạnh. Bài kinh này trở thành bất hủ trong việc xây dựng tổ chức và cộng đồng.  Bảy yếu tố này xin sơ lược diễn thuyết lại như sau:

1.     Thường xuyên tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau

2.     Tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, làm việc trong niệm đoàn kết.

3.     Không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đă được ban hành, sống đúng với quy pháp đă được ban hành từ xưa.

4.     Tôn sùng kính trọng đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lăo và nghe theo lời dạy của các vị này.

5.     Không bắt cóc cưỡng ép phụ nữ hay thiếu nữ phải sống với ḿnh.

6.     Tôn sùng kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajj́ ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đă cúng từ trước, đă làm từ trước đúng với quy pháp.

7.     Bảo hộ che chở, ủng hộ đúng pháp các bậc A-la-hán khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến, các vị đă đến được sống an lạc.

 

Trên đây là 7 yếu tố mà Đức Phật từng giảng dạy cho dân tộc Vajji, khiến cho dân tộc này được hưng thịnh hùng mạnh đến độ vua A Xà Thế buộc phải chùng chân trước ư đồ xâm lăng.

Điểm lại 7 yếu tố trên theo cách nói ngày nay ta có thể hiểu v́ sao dân tộc Vajji trở nên cường thịnh, bởi:

*     Nó thể hiện và phát huy sức mạnh tập thể

*     Nó kêu gọi và phát huy tinh thần đoàn kết nhất trí của mọi người dân trong

      sinh hoạt hội họp và trong mọi hoạt động mang tính cộng đồng.

*     Nó kêu gọi và khuyến khích việc tuân thủ các luật lệ mang tính truyền  thống.

*     Nó phát huy và giáo dục đạo lư kính trên nhường dưới.

*     Nó đề cao và phát huy truyền thống tôn trọng quyền tự do hôn nhân của mọi công dân, đặc biệt đối với phụ nữ.

*     Nó bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc.

*     Nó phát huy và giáo dục truyền thống yêu quư đạo đức tâm linh của dân tộc.

 

Đây là đường lối phát huy sức mạnh tinh thần của một dân tộc, vừa như một sách lược bảo vệ xứ sở. Một lần nữa khẳng định sự tôn kính chính là việc làm nhân bản giúp cho nhà nhà b́nh an, xă hội hưng thịnh và quốc gia vững bền.

          Người học Phật, yếu tố chánh kiến hết sức thiết thực, v́ nó đem lại cho hành giả hướng giải thoát và lợi lạc trong thực tại cũng như xa dần con đường đọa lạc. Muốn rốt ráo trên con đường giải thoát, muốn có lối sống và hướng tư duy của thánh nhân th́ phải thay đổi cách nh́n, sẵn sàng loại bỏ tập khí cố hữu và chuyển hóa nghiệp lực của ḿnh. Điều đó không ǵ khác là theo lời Phật dạy và kính pháp kính tăng bằng sự nhiệt thành và vô ngă, bất vị kỷ của mỗi hành giả.  Khi mỗi hành giả tôn kính Tam Bảo đúng nghĩa th́ ḷng cống cao ngă mạn không c̣n, nhờ vậy dễ gần với thiện pháp và tăng trưởng trên con đường học pháp. Biết tôn kính cũng là biết tôn vinh nét văn hóa vật thể và phi vật thể, sự tôn vinh này là yếu tố xây dựng đạo đức và bảo tồn đạo đức.  Bất luận một tổ chức nào hay một quốc gia nào, nếu biết thiết lâp trên nền tảng đạo đức th́ sẽ bền vững và phát triển hơn.  Đây cũng là chất liệu vô tiền khoán hậu của người Á Đông và nhân loại vậy.

                            Xuân Bính Tuất 2006

 

 

 

Nhà Xuân hoa nở tưng bừng,

Đó đây chiếc bướm chập chùng lượn bay.

Sương Xuân tô điểm ngàn cây,

Lá Xuân nẩy lộc, hẹn ngày thắm tươi;

Mưa Xuân lấm tấm nhẹ rơi,

Trời Xuân đầm ấm ḷng người tỉnh tao;

Phất phơ mấy cánh hoa đào,

Nhởn nhơ trước gió đón chào chúa Xuân,

Chim Xuân khúc nhạc trên cành,

Lại càng như vẽ bức tranh tuyệt vời.

 

        Chiêu-Dương

 

 

 

Tết về nhớ bánh chưng xanh

Nhớ tràng pháo chuột, nhớ tranh lợn gà

Nhớ cành đào thắm đầy hoa

Nhớ giây phút đợi Giao-Thừa nghiêm trang

Nhớ ngũ vị, nhớ chè lam

Nhớ cây nêu, nhớ khách vang tiếng sành

Nhớ tam cúc tết, nhớ ḿnh

Nhớ cân mức lạt, nhớ khoanh gị b́.

 

             

 Bàng-Bá-Lân