Mùa Xuân năm ấy

                  

Đức Trí

 

 

 

Bạn có nghĩ rằng ai cũng có một mùa xuân với những ấn tượng khó quên không? Với tôi, bao mùa xuân đã đi qua, dù ở quê nhà hoặc nhiều nơi khác, bao khung cảnh đông vui nhộn nhịp, nhưng tôi cũng nhớ về mùa xuân năm ấy.  Đó là hình ảnh đón xuân một mình ở mái chùa tranh giữa cảnh núi rừng với những sự kiện thú vị đáng nhớ.

            Ngày đầu tiên bắt đầu cuộc sống tu học, tôi có nhân duyên ở một ngôi chùa trên núi Thị Vãi. Nói một ngôi chùa nhưng thực ra đó chỉ là một mái nhà tranh đơn sơ nằm bên cạnh một ngôi chùa cổ đã bị đổ nát qua chiến tranh tại đỉnh núi đó. Chùa có hai cơ sở, ngoài chùa tranh này còn có chùa Hang ở lưng chừng sườn núi. Gọi chùa Hang cho dễ nghe thực ra đó chỉ là một cái hang rộng nằm ở dưới một hòn đá to tướng nhô ra ngoài sườn núi. Tôi nghe thầy tôi kể rằng, mấy chục năm trước có một vị cư sĩ là ông Hai lên đào cái hang này và ở đó tu tập, hết đời ông, cái hang này đã để trống. Sau đó người ta khoét rộng ra, dùng đá chấn ở mặt trước, chừa hai cánh cửa để ra vào. Thầy tôi dùng chổ này để tu vào mùa mưa, vì khi trời mưa có thể hứng nước từ trên tảng đá chảy vào một cái bể nhỏ ở bên hông chùa, rồi dùng nước đó để sinh hoạt, vì chùa Hang cách suối nước rất xa.

            Năm ấy sắp đến tết, thầy và một sư huynh của tôi đi về các chùa miền Tây để làm lễ. Vì tôi mới tu học không biết nhiều về Phật pháp nên phải ở núi một mình để giữ chùa, đốt hương ngày tết và quét dọn.  Không như thường ngày, tôi phải đi tưới rau cải, hoặc đi lăn đá để đắp mấy đoạn đường lên núi. Ngày tết tôi được ưu tiên không làm việc gì nặng nhọc ngoài việc cắt hoa cúng Phật và tụng kinh.

 

 

            Chùa ở trên núi không đi mua hoa mà chỉ đi kiếm loại hoa rừng về cúng Phật. Tôi thường đi cắt hoa kèn, hoa nho rừng và hoa địa lan về cúng Phật.  Loại hoa kèn là do tôi đặt tên vì tôi không biết tên của nó là gì, thấy nó hình dạng như cái kèn nên tôi gọi đó là hoa kèn. Hoa nho rừng thì đỏ tươi, hoa địa lan thì màu đỏ sẩm thường mọc chen các tảng đá trên núi, còn hoa kèn thì màu vàng tươi thường mọc quanh bờ suối. Tết về trong bếp chỉ có mấy đòn bánh nếp nhân chuối, mấy miếng đậu hủ và một gói đường táng mà bà Tư đã gởi cho tôi vào ngày hai mươi lăm tết.  Bà dặn tôi rằng bánh tét thì treo lên mái nhà để tránh bị chuột ăn, đậu hủ thì ngâm trong thau nước và đậy lại để khỏi bị hư.  Muối tiêu, bột ngọt đã có sẵn rồi, rau tươi thì ngoài bờ suối. Vật chất chuẩn bị ăn tết như vậy là cao lương mỹ vị quá rồi, tôi không đòi hỏi gì thêm nữa.

 

 

Tuy đón xuân một mình nhưng lòng không buồn, không cô đơn, không thấy thiếu thứ gì mà tôi chỉ nghĩ thiếu một cành mai. Người ta nói rằng, núi này có nhiều mai nhưng tôi chưa tìm được cành nào.  Mai mọc xen giữa những cây khác khó tìm thấy lắm, trừ khi có cây nào nở hoa màu vàng mới dễ phát hiện. Thật là may, chiều hai mươi tám tết tôi đi từ chùa Tranh về chùa Hang để đốt nhang và quét dọn. Trên đường về tôi tìm thấy được một cây mai nhỏ mọc chen bên tảng đá, nó mới nở được mấy cái hoa xinh đẹp. Tôi cắt được cành mai ấy về cúng Phật, lòng tôi vui sướng, tự nghĩ rằng như vậy là đủ hương vị của mùa xuân rồi.

            Có một điều tôi nhớ mãi, vào sáng mồng một tết, sau giờ tụng kinh xong, ngước nhìn lên bàn thờ Phật tôi thấy một con ếch ương nhỏ, người ta quen gọi là con hót cổ đang ở trong ly nước thủy tinh dùng cúng Phật. Loài ếch ương này bụng nhỏ mà hai chân sau rất dài nên nó nhảy rất xa. Tôi bắt được đem thả ra trước hiên chùa, rồi đi rửa ly và pha nước đặt lại trên bàn thờ. Tối đến, tôi bắt đầu tụng kinh thấy nó nằm yên trở lại trong ly thủy tinh, lòng tôi cảm thấy bực bội, vội bịt tay trên ly nước đem đi thả nó sau vườn chùa. Tôi nghĩ bụng, sao nó ngoan cố vậy, hay nó muốn ngồi mãi trên bàn thờ để tôi lạy Phật và lạy nó luôn hay sao?  Qua sáng mồng hai tết, tôi lại thấy nó xuất hiện trong ly nước ấy lại, lòng tôi càng bực bội hơn nhiều. Tôi nghĩ rằng: sao con ếch này bướng bỉnh quá vậy, nó cố làm khó dễ tôi trong lúc tụng kinh. Vì nó buộc tôi phải đi rửa và thay nước mãi, hay vì không đánh nó nên nó giởn mặt hoài. Lần này tôi vội lấy tay chụp lại miệng ly nước đem đi xa hơn theo đường mòn sau núi, tôi tung ly nước thật mạnh để thả nó vào một bụi cây nào đó, không cho nó nhớ đường trở về và không còn cơ hội quấy rầy tôi nữa.

            Sau đó trở về chùa, tôi ngồi một mình suy ngẩm lại, con ếch ương này thích ở nơi mái tranh, nhìn thấy ly nước ở trên bàn Phật, do khát quá nên tìm đến uống mà thôi. Vì sao mình tu hành mà ngay trước bàn Phật lại đem tâm nóng giận đối với một con vật nhỏ bé mà cố ý tống nó ra thật xa chùa.  Lòng tôi cảm thấy ăn năn vì do cố chấp vấn đề sạch và dơ mà đối xử thô bạo với nó.  Điều này đã làm tổn hại đến lòng từ bi của mình.

            Qua chiều ngày mồng ba tết, đang ngồi ở trước hiên chùa, tôi thấy một con chó từ đâu đi đến. Tôi thầm nhủ: phải chăng đây là chó dại hay chó hoang. Thực ra đó là một con chó của nhà ai dưới đồng bằng nghe tiếng pháo nổ ngày tết, nó sợ hoảng hốt và chạy lạc lên núi. Vì quá đói nên nó tìm đến ngôi nhà tranh này để kiếm ăn. Tôi thấy bụng của nó xẹp lép và dáng đi rất mệt mỏi, tôi vội vào bếp lấy cơm cho nó ăn. Thái độ của tôi càng thân thiện với nó hơn, không còn thô bạo như đối với con ếch ương kia nữa. Từ bữa đó nó ở lại với tôi qua mấy ngày tết. Trong lúc đón tết một mình, có nó tôi cảm thấy lòng mình ấm áp phần nào giữa cảnh rừng núi hoang vu này.

            Bao mùa xuân đi qua, dù ở nhiều nơi đông vui nhộn nhịp, tôi vẫn nhớ mùa xuân năm ấy như là một kỷ niệm ngoạn mục khó quên. Nó ghi lại một khoảng thời gian của cuộc sống đơn sơ mộc mạc nơi chốn thiền môn của tôi. Tết về tôi nhớ mãi cành mai vàng mọc ở khe đá năm xưa, nhớ con ếch ương tội nghiệp bị tôi tống xa ra khỏi chùa, nhớ con chó nhà ai dại dột chạy lạc vào núi làm bạn với tôi trong mấy ngày tết. Tất cả những hình ảnh ấy còn sống lại trong tôi khi mùa xuân về.

Xuân Bính Tuất 2006