Cảm Ứng

Diệu Hồng

 

Nguyên nhân nào đưa chúng ta đến với tôn giáo? Theo tâm lư thông thường, khi chúng ta cảm thấy sợ hăi, lo âu, đau khổ, thất vọng, bất lực trước nghịch cảnh, hoặc có những ước muốn vượt khỏi tầm tay; lúc ấy, chúng ta t́m đến tôn giáo với niềm tin, hy vọng, mong cầu các đấng thiêng liêng sẽ che chở, giúp đỡ chúng ta thoát khỏi những tai ương, nghịch cảnh hay thỏa măn những ao ước, mong cầu của chúng ta. Điều này đúng hay sai? Các đấng thiêng liêng có ban phước, có che chở, giúp đỡ chúng ta hay không?  Đặc biệt, Phật tử chúng ta phải xây dựng niềm tin như thế nào cho đúng lời Phật dạy?

Là một Phật tử, tôi tin rằng chư Phật, chư Bồ Tát và các bậc Hiền Thánh Tăng luôn ban răi t́nh thương chan ḥa khắp nhân loại.  Nhưng chúng ta có tiếp nhận được hay không là tùy ở định lực và nguyện lực của mỗi con người. Thật vậy, hiện nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chúng ta có thể ghi nhận sự hoạt động của nhịp tim, của khối óc bằng những làn sóng điện. Vậy, phải chăng chư Phật, chư Bồ Tát luôn luôn phát ra những “làn sóng” t́nh thương, những tư tưởng an lành đến toàn thể nhân loại, nhưng do niềm tin chúng ta chưa đủ mạnh, ḷng chưa đủ thành khẩn, tâm tham dục c̣n dăy đầy nên không thể với tới những tư tưởng thanh cao, trong sạch của các ngài.  Chúng ta ví như những chiếc radio hay TV đang t́m kiếm những tần số thích hợp để phát ra âm thanh, h́nh ảnh.  Bằng cách nào chúng ta có thể bắt được “tần số” của các ngài?  Nếu chúng ta định tâm, chăm chú lắng nghe lời kệ, câu kinh mà chúng ta thường đọc tụng hằng ngày sẽ thấy rằng chúng ta đă được chỉ dạy rơ ràng trong bài Nguyện Hương:

“Thành ư phương ân

          Chư Phật hiện toàn thân.”

hay trong bài Hương Tán của Phẩm Phổ Môn:

          “Chí thành dâng nén hương ḷng,

          Mười phương cơi Phật khắp xông ngạt ngào.”

Phải chăng chỉ cần sự thành ư chánh tâm, chúng ta có thể nâng được tâm thức của ḿnh gần với tâm thức của chư Phật.

          Tịnh Độ Tông cũng yêu cầu người Phật tử phải thực hành “Tín, Hạnh, Nguyện” để được văng sanh về Cực Lạc.

 

          Câu chuyện của Lạt Ma Ajo trong quyển “Đường mây qua xứ Tuyết” do Lạt Ma Anagarika Govinda viết, bản Việt văn của Nguyên Phong đă chứng minh rằng chỉ cần với niềm tin vững chắc, tâm nguyện thiết tha, người Phật tử có thể sống trong cảnh giới Tịnh Độ nơi cơi Ta Bà này.  Chuyện kể rằng, có hai huynh đệ đồng môn là Reto và Ajo, Reto là một học giả tinh thông kinh điển có thể giảng dạy, trích dẫn kinh sách một cách dễ dàng, trong khi Ajo chỉ chuyên tâm lễ bái và thiền định.  Lạt Ma Reto sau khi tốt nghiệp Thủ Khoa của trường Đại Học Drepung đă trở thành một Pháp Sư nổi tiếng của Tây Tạng.  Trong khi ấy, Lạt Ma Ajo vẫn ẩn tu ở làng Chumbi. Một hôm, nhân chuyến công du ngang qua làng cũ, Pháp Sư Reto ghé thăm người bạn đồng tu. Sau khi chào hỏi, Lạt Ma Reto bèn hỏi thăm Ajo đă tu học đến đâu, Lạt Ma Ajo thưa rằng, lâu nay chỉ chuyên tụng bộ kinh Di Đà mà thôi. Pháp Sư Reto nghe thế, rất xót thương cho người bạn đồng môn quê mùa, hủ lậu của ḿnh bèn giảng dạy cho Ajo nghe những pháp môn cao siêu khác đến tận khuya mới ngủ.  Nhưng khi vừa chợp mắt, ông đă giật ḿnh tỉnh dậy v́ thấy ánh sáng chói ḷa cả chánh điện, ông ngạc nhiên bước ra xem thử th́ thấy: “Lạt Ma Ajo đang chắp tay đảnh lễ, tŕ tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà, nhưng quanh ông này hào quang sáng rực cả chánh điện. Ông thấy trong hào quang đó có một ao sen lớn bằng các thứ ngọc báu với những lâu đài, dinh thự toàn bằng vàng. Ngoài ra, c̣n có những giống chim lạ cất tấu lên những điệu nhạc ḥa nhă, vi diệu nghe như tiếng giảng kinh, rồi trời đổ mưa hoa, những bông Mạn Đà La rơi xuống ao báu, tỏa ánh sáng khắp nơi >>(trang 155). Pháp Sư Reto ngạc nhiên, xúc động trước hiện tượng thiêng liêng đó mới gạn hỏi Lạt Ma Ajo đă tu luyện phương pháp ǵ. Lạt Ma Ajo cho biết: “Ông không hề áp dụng một phương pháp ǵ ngoài việc ǵn giữ Thân, Khẩu, Ư cho thật thanh tịnh, trang nghiêm để tŕ tụng hồng danh Phật A Di Đà mà thôi.”  Lạt Ma Reto không tin chỉ với phương pháp đơn giản như vậy mà Lạt Ma Ajo đă đạt được thần thông như thế. Lạt Ma Ajo giải thích rằng: “Có lẽ huynh chỉ đọc kinh văn để thỏa măn tri thức, giỏi biện luận như một nhà thông thái mà thiếu hành tŕ, không chí thành cung kính, đọc kinh c̣n nghi ngờ, chỉ trọng về lư tánh mà không chuộng sự tu dưỡng thân tâm chăng? Như em đây th́ chuyên tâm tin tưởng vào lời khuyên dạy của chư Phật, tin rằng có cơi Tây Phương Cực Lạc, tin vào đại nguyện của Phật A Di Đà và tha lực tiếp dẫn của ngài rồi chí thành nguyện cầu sẽ được sanh sang cơi nước Cực Lạc >>(trang 155, 156).

           Sau chuyến viếng thăm này, Pháp Sư Reto từ chức, vào nhập thất trong dăy Tuyết Sơn tiếp tục tu học, riêng phần Lạt Ma Ajo được đức Đạt Lai Lạt Ma phong chức Ḥa Thượng và ban tặng một ngôi chùa nguy nga, tráng lệ để xứng đáng với công đức tu hành của một vị cao tăng.  Nhưng ngài từ chối không nhận và giải thích rằng: “… dù chùa cao to, đẹp đẽ, dù cung vàng điện ngọc cũng chỉ là những h́nh thức bề ngoài, hữu sinh hữu hoại, nay c̣n mai mất, không thể so sánh với cảnh giới của cơi cực lạc được >>(trang 156).

           Đó là câu chuyện của xứ Tây Tạng, riêng Việt Nam chúng ta th́ sao?  Ni Sư Huệ Hạnh trong bài Pháp Thoại nhân ngày Phật Đản 2549 tại Viên Thông Tự (Texas) đă kể lại kinh nghiệm bản thân ḿnh. Nhân một chuyến vân du hoằng pháp tại một vùng quê rất nghèo khổ, một nơi mà “muỗi như sáo thổi, đĩa lềnh như bánh canh.”  V́ thế, đêm đến, khi Ni Sư vừa cất tiếng tụng kinh chưa dứt câu: “Pháp Vương vô thượng tôn” th́ muỗi đă bay vào đầy miệng, quơ tay ra là có thể hốt muỗi cả nắm, và vết muỗi đốt ngày hôm sau đă thành mũ. Thế mà, lúc Ni Sư đi quanh vùng thăm dân chúng th́ thấy đa số dân làng không có mùng, hoặc có th́ cũng đă cũ rách. Trẻ em khắp người đầy ghẻ v́ bị muỗi cắng.  Ni Sư rất thương tâm, không biết làm cách nào để giúp đỡ, bèn đến trước bàn Phật tụng Phẩm Phổ Môn và khấn nguyện: “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, cho con xin 100 cái mùng trong ṿng một tuần v́ dân làng này quá khổ”, rồi suốt ngày Ni Sư cứ lẩm bẩm khấn nguyện “cho con xin 100 cái mùng Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát cho con xin 100 cái mùng…” chỉ trong ṿng ba ngày có người đem đến cho tôi một số tiền đủ mua 100 cái mùng, rồi trong một năm tôi đă xin được 10,000 cái mùng, không do nhắn tin, không do quyên góp hay thư từ v́ những người đủ khả năng đă cho rồi, nếu ḿnh hỏi người ta không cho th́ sợ ḿnh buồn…”

 

 

          Trở về với Phật Tử chùa Tam Bảo th́ thế nào?  Chùa Tam Bảo nay đă có thầy.  Đó là một bằng chứng hùng hồn về sự thành tâm của các Phật Tử.  Biết bao năm, ban hộ tŕ đă mời thỉnh chư Đại Đức Tăng về chùa, nhưng năm qua tháng lại, Tam Bảo tự vẫn chưa đủ nhân duyên nên các thầy cứ đến rồi đi, chùa vẫn thiếu vắng thầy.  Cuối cùng, ban hộ tŕ cùng tất cả thiện tín hàng ngày chí thành tụng kinh Pháp Hoa, và mong ước nay đă viên thành.

           Từ những câu chuyện có thật trên, tôi đă học được rằng: yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề tu học là sự thành tâm.  Khi tŕ tụng hồng danh chư Phật phải chí thành, khẩn thiết, nhất tâm bất loạn mới được cảm ứng, nếu chúng ta cố gắng tŕ tụng cho đủ số hay chỉ chú trọng theo đúng các nghi thức bề ngoài mà thiếu ḷng chân thành cũng không đạt kết quả ǵ.

           Bản nguyện của Phật Thích Ca là cứu khổ, ban vui, mang lại sự thanh tịnh, an lạc cho muôn loài.  Phật đă từ bỏ cung vàng điện ngọc ra đi sống cảnh bần hàn, trải qua bao gian lao, khổ cực mới t́m ra con đường cứu khổ, rồi tận t́nh trao truyền giảng dạy đến phút cuối đời. Chúng ta là Phật tử, chúng ta cần hiểu thấu tâm nguyện của Ngài và cố gắng thực hành theo những lời Ngài đă chỉ dạy (Tri hành hợp nhất). Ngài không đ̣i chúng ta sơn son thếp vàng h́nh tượng Ngài, Ngài không muốn chúng ta lao tâm, nhọc trí cố gắng xây dựng “cung vàng điện ngọc” mà Ngài đă từ bỏ để làm nơi thờ phượng Ngài rồi quên đi việc trau dồi Thân, Khẩu, Ư. May mắn thay, Tam Bảo tự chúng ta không lăng quên mục tiêu chính yếu này, đă biến một nhà kho đơn sơ thành một đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh, huynh đệ cùng nhau tu tập dưới sự chỉ dạy nhiệt t́nh của Thầy Trụ Tŕ.

           Trong năm Bính Tuất, tôi không mong ǵ hơn là tất cả huynh đệ chúng ta cùng nhau thành tâm sám hối những tội lỗi do vô minh đă gây tạo ra, và quyết tâm giữ tṛn năm giới để xứng với danh xưng Phật Tử.